PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP



English Vietnamese
banner

Lương y Vũ Văn Hùng - Mong ước làm lành các vết đau người bệnh !
|

Video

Tác dụng của phuơng pháp có thể thay đổi và điều chỉnh tùy theo tình trạng thể chất mỗi nguời

Tin tức mới

  • bullest  Nhận biết và điều trị bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới

    Dấu hiệu nhận biết, cách điều trị và phòng ngừa bệnh suy giãn tĩnh mạch chân (hay còn gọi là suy giãn tĩnh mạch chi dưới hay suy van tĩnh mạch chi dưới).
  • bullest  6 báo hiệu cơ thể có cục máu đông

    Cục máu đông tác động đến tuần hoàn máu, gây thuyên tắc động mạch phổi, phá huỷ chức năng của phổi và các bộ phận khác, thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Vì thế nhận biết sớm các dấu hiệu xuất hiện cục máu đông rất quan trọng để điều trị kịp thời. Dưới đây là 6 dấu hiệu dễ bị bỏ qua cần lưu ý.
  • bullest  Vì 10 lý do sau, bạn nên ăn cá nhiều hơn

    Cá là thực phẩm có hàm lượng calo thấp, bạn có thể ăn chúng thường xuyên mà không cần lo lắng về vấn đề cân nặng. Có nhiều lý do để bạn nên ăn cá. Nó cũng được gọi là thực phẩm tốt cho não vì nó có chứa axit béo omega-3. Những chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể của bạn mà không có nhiều trong chế độ ăn.
  • bullest  10 thực phẩm tuyệt đối không nên để trong tủ lạnh

    Bạn nghĩ rằng tất cả thực phẩm bạn để trong tủ lạnh có thể giữ được hương vị hay mùi thơm của chúng. Tuy nhiên 10 thực phẩm dưới đây bạn tuyệt đối không nên để trong tủ lạnh nhà mình.
  • bullest  5 cách thải độc gan ngay tại nhà hiệu quả nhất

    Gan là bộ phận trực tiếp lọc các chất độc của cơ thể rồi “tống khứ” nó ra bên ngoài để giúp cơ thể khỏe mạnh không bị nhiễm độc.Tuy nhiên, khi làm việc trong 1 thời gian dài bản thân gan cũng sẽ bị nhiễm độc do đó, bạn nên thường xuyên thải độc để giúp gan khỏe mạnh.
PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP
PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP

ĐÁP ÁN CUỐI CÙNG của CAO HUYẾT ÁP - RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH kéo dài là ĐỘT QUỴ NÃO hay TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

  • Nội dung chi tiết
  • Gửi yêu cầu báo giá

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP - RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH HIỆU QUẢ CỦA HÙNG TÔI !

 

Những năm gần đây số lượng người bị bệnh cao huyết áp, rối loạn tiền đình ngày càng tăng cao, nguyên nhân là do đời sống nhân dân ta được cải thiện nhiều, đời sống vật chất có dư dả hơn, nhu cầu về dinh dưỡng cũng cao hơn. Về mặt văn hóa dân trí cũng có nhiều thay đổi đáng kể. Song có một điều là dân ta vẫn chưa cân đối được chế độ dinh dưỡng, số lượng người béo phì và thừa cân tăng cao. Vận động về thể chất thì còn nhiều hạn chế hoặc lười vận động, sống tĩnh tại. Dẫn đến phát sinh một loạt các bệnh lý như: rối loạn chuyển hóa, tăng huyết áp, tăng mỡ máu, tăng mỡ gan, gút, viêm khớp, thoái hóa cột sống, loãng xương, tim mạch, bệnh lý thận, tai biến mạch máu não...

 

Nguy hiểm hơn tính đến thời điểm này thì số lượng người bị cao huyết áp và tai biến MMN (mạch máu não) tăng rất cao và đáng báo động. Cứ 10 người bị tai biến MMN thì có 5 người tử vong trong vòng một năm. Các bạn hay xem truyền hình VTV1 bản tin lúc 19h thì biết vào các đợt lạnh nhiệt độ hạ thấp thì số lượng người bị bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch phải nhập viện tăng rất cao, gấp 3 đến 4 lần ngày thường. Một điều nữa là khi đã bị tai biến MMN thì đa phần người bệnh phải điều trị bằng thuốc nhập ngoại với giá thành rất đắt song cũng không khỏi bệnh hoàn toàn được. Quá trình phục hồi của người bệnh cũng rất lâu gây hao phí về tiền bạc cho gia đình và xã hội.

 

Một điều cần nói thêm là người bệnh thường hay có tư tưởng chủ quan và tin vào lời căn dặn của một số bác sỹ, đó là huyết áp tăng theo tuổi, tuổi càng cao thì huyết áp cũng phải tăng lên một chút. Chẳng hạn với một người 60 tuổi thì huyết áp ở ngưỡng 140/90mmHg; 150/90mmHg thì vẫn cho là bình thường và tạm ổn, đôi khi chưa đưa ra phương pháp điều trị gì mặc dù người bệnh đã bị bệnh kéo dài và mang rất nhiều triệu chứng bệnh khó chịu trong người. Hoặc có điều trị thì cũng chỉ cho các loại thuốc như Nifedipin, Amlo... cơ chế hoạt động của thuốc này nhìn chung là giãn mạch và lợi tiểu. Cũng đúng thôi vì có tới 90 - 95 % là cao huyết áp vô căn, nên đây được cho là một giải pháp an toàn.

 

Khi chẩn đoán bị cao huyết áp thì người bệnh sẽ được chỉ dẫn uống các loại thuốc trên, vì khi đó mạch máu của người bệnh CŨNG ĐANG CĂNG RỒI nhưng mà VẪN BỊ CHO LÀ HẸP nên phải uống thuốc giãn mạch (giống như một dòng sông nhỏ và hẹp ở 2 bên nên bắt buộc nước (máu) phải dâng to nếu ta mở rộng dòng sông ấy thì nước sẽ rút xuống)(giảm áp lực cho mạch máu). Nhưng các loại thuốc này chỉ có tác dụng trong vòng 24h, sau đó mạch máu sẽ tự động co lại và cơn cao huyết áp lại ập đến bệnh nhân lại phải tiếp tục duy trì uống thuốc, một điều nguy hiểm ở cơ chế này là có thể phải tăng liều hoặc mạch máu cứ giãn rồi hẹp lâu dần gây sơ vữa, chai cứng mạch máu, giảm sự đàn hồi của mạch máu, gây áp lực lên tim, lâu dần sẽ bị hở van tim hay tim to (tim hoạt động như một chiếc bơm hút máu từ tĩnh mạch và đổ máu vào động mạch, nếu áp lực bên ngoài cao và kéo dài sẽ làm cho tim chịu một áp lực ngược lâu dần sẽ dẫn tới tim to).

 

Cơ chế thứ hai là dùng thuốc lợi tiểu để rút dần nước trong cơ thể qua con đường tiểu tiện, làm giảm áp lực trong mạch máu, nhưng sau đó chúng ta lại phải ăn uống và nước lại đầy lên như cũ và lại tiếp tục uống thuốc.

 

Cơ chế thứ ba là nếu người bệnh bị CHA có kèm đau đầu, chóng mặt, loáng choáng... thì sẽ được cộng thêm các loại thuốc như Hoạt Huyết Dưỡng Não, Gingo - Globa, Serc, ... Thông thường thì dòng máu của những người bị CAO HUYẾT ÁP - RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH thường hay bị nhanh nên cơ thể phản ứng không kịp để trộn ô xi vào máu nên mặc dù là máu có chảy nhanh nhưng lượng ô xi là rất thấp, chính vì vậy mà theo tôi thì uống thêm Hoạt Huyết Dưỡng Não là không thích hợp và trở thành nguy hiểm nếu huyết áp từ 180 trở lên. Và ngẫu nhiên ta đang bắt cơ thể hoạt động theo cơ chế đã thiếu lại càng phải hoạt động (hoạt huyết), càng hoạt động (hoạt huyết) lại càng thiếu. Trong khi việc ta CẦN LÀM LÚC NÀY LÀ LÀM SAO CHO DÒNG MÁU CHẢY CHẬM LẠI MÀ VẪN MANG ĐẦY ĐỦ Ô XI. Ta cứ hiểu đơn giản như thế này ở người huyết áp thấp thì mạch máu trong cơ thể giống như một chiếc bánh xe bị non hơi, lẹp xẹp, đi xe bị yếu không khỏe xe, cần phải bơm hơi thêm cho vừa đủ. Ở người cao huyết áp thì lại giống như chiếc bánh xe bị bơm hơi quá căng, đi xóc, có thể bị nổ, cần phải xả hơi đi. Còn ở người huyết áp bình thường chiếc bánh xe ấy sẽ được bơm hơi vừa đủ không non và không bị căng đi rất êm ái, trơn tru. Còn dòng máu trong cơ thể nó được ví như một chiếc xe máy chạy tốc độ 50 km/h ở người bình thường và 70 km/h ở người cao huyết áp nên cần phải điều chỉnh cho đi chậm lại.

 

Đặc trưng nguy hiểm nhất của CAO HUYẾT ÁP - RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH là bệnh hay TÓT CÓC. Người bệnh có thể sống chung với bệnh ở ngưỡng 140/90mgHg; 150/90mgHg; 160mgHg (có điều trị thuốc hạ áp tân dược thường xuyên) một vài năm nhưng vào một ngày thời tiết thay đổi, những đêm hè oi nực, thời điểm giao mùa, có gió mùa đông Bắc tràn về, bệnh nhân đi ra ngoài vệ sinh, hay chỉ cần đang đứng ở đâu đó cũng có thể bị ngã bất chợt và bị choáng ngất. Khi được người nhà đưa vào nghỉ ngơi và gọi thầy thuốc đến đo huyết áp thì lúc này huyết áp đã tăng rất cao (cụ thể là đang ở mức 140/90mmHg sẽ tót cóc lên 170, 180; đang 160,170/100mmHg thì sẽ tăng lên 200; 210 và 210/120mmHg tăng lên 290; 300).

 

Với kinh nghiệm điều trị bệnh gần 10 năm nay Hùng tôi nhận thấy huyết áp của người trưởng thành cũng như NGƯỜI GIÀ CẢ TRÊN 60 TUỔI TRỞ LÊN hãy luôn giữ ở mức 110/70mgHg và 120/80mgHg ĐỂ CÓ THỂ SỐNG TRƯỜNG THỌ (vì tôi đã khám cho rất nhiều người cao tuổi tầm 80 - 85 tuổi huyết áp của họ luôn ở mức đẹp 120/80mmHg và thấy họ sống rất khỏe, không cảm thấy đau đầu hay mệt ở ngưỡng trên, mà có chăng chỉ là mệt do tuổi cao thôi). Còn người trưởng thành, người già cả còn cứ để huyết áp ở mức cao đó thì theo tôi cơn cao huyết áp, đột quỵ, cơ hội sống cũng như sống khỏe là rất ít.

 

TRƯỚC TIÊN TA NÊN TÌM HIỂU THẾ NÀO LÀ CAO HUYẾT ÁP ?

 

Huyết áp: là số đo về lực tác động của máu lên thành động mạch. HA phụ thuộc vào lực bơm máu của tim, thể tích máu được bơm, kích thước cũng như độ đàn hồi của thành động mạch. HA liên tục thay đổi tùy theo hoạt động, nhiệt độ, chế độ ăn, cảm xúc, tư thế và sử dụng thuốc.

 

- HA tâm thu (còn gọi là HA tối đa hoặc ngắn gọn là số trên): là HA đo được khi tim tống máu vào động mạch, thể hiện sức bóp của tim.

 

- HA tâm trương (còn gọi là HA tối thiểu hoặc ngắn gọn là số dưới): là HA đo được khi tim hút máu về, thể hiện sức cản của lòng mạch.

- HA kẹt: là tình trạng hiệu số giữa HA tâm thu và HA tâm trương nhỏ hơn hoặc bằng 20.

- HA dao động: HA lúc cao lúc thấp, sáng cao chiều thấp và ngược lại, hoặc ngày hôm qua cao đến hôm nay thì lại thấp, người bị rối loạn thần kinh thực vật cũng dễ bị HA dao động, người có vấn đề ở thận...

- HA bình thường: có 2 ngưỡng đẹp là: 110/70mmHg và 120/80mmHg

- HA thấp: là khi HA tâm thu bằng hay dưới 90mmHg và HA tâm trương bằng hay dưới 60mmHg.

 

- Theo Y Học Hiện Đại thì HA tối đa của người Việt Nam là: 140/90mmHg

(Theo tôi ngưỡng 140/90 mg/Hg nên gọi là tiền cao huyết áp thì đúng hơn).

 

- HA trẻ em:

 

  Trẻ càng nhỏ HA động mạch càng thấp: - HA tối đa:

 

  Trẻ sơ sinh: 70mmHg

 

  Trẻ 1 tuổi (12 tháng): 80mmHg

 

  HA trẻ em > 1 tuổi tính theo công thức:

                                HA tối đa = 80 + 2n (n: là số tuổi).

                                HA tối thiểu = HA tối đa/2 + K

 

  Hệ số K phụ thuộc vào tuổi:

 

  Trẻ < 7 tuổi                              10.

 

  Trẻ 7 - 12 tuổi                          15.

 

  Trẻ 13 - 15 tuổi                        20.

- HA vượt 140/90mmHg được gọi là cao huyết áp.

- Cao HA gồm có 2 loại: cao HA nguyên phát và cao HA thứ phát.

+ Cao HA nguyên phát: là loại không tìm ra nguyên nhân hay còn gọi là cao huyết áp vô căn, loại này chiếm 90 - 95% tổng các trường hợp cao HA nói chung.

+ Cao HA thứ phát: là loại cao HA có nguyên nhân rõ ràng như tăng áp do u thận, do bệnh lý thận, hẹp động mạch thận, sơ gan cổ chướng, u gan, béo phì, tăng mỡ máu, tăng mỡ gan, do di truyền, do một số bệnh nội tiết...

 

NGUYÊN NHÂN: có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh CHA

- Tăng mỡ máu, tăng mỡ gan

- Béo phì

- Ăn mặn

- Bệnh trĩ, táo bón kéo dài

- Stress (căng thẳng)

- Do di truyền

- Thoái hóa cột sống

- Mất ngủ kéo dài

- Do thuốc Tân dược như các dòng thuốc kháng viêm để điều trị thoái hóa, viêm khớp mạn, đặc trưng là dòng Dexa, Corticoid... ; thuốc tránh thai (tăng cân, giữ nước)...

- Tiểu đường - gây bệnh khớp - điều trị thuốc chống viêm - cao HA.

- Bệnh lý thận: sỏi thận, đa nang thận, u thận, hẹp động mạch thận, suy thận...

- Bệnh sơ gan cổ chướng, u gan...

- Thiếu Vitamin D sẽ ảnh hưởng tới tim, tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch. Những người mắc bệnh về gan, thận khả năng chuyển đổi Vitamin D cũng hạn chế gây thiếu vi chất thiết yếu này.

- Rượu bia

- Lười vận động

- Giới tính nam nhiều hơn nữ

- Người già có nguy cơ mắc bệnh cao hơn ở người trẻ.

 

TRIỆU CHỨNG:

- Đau đầu mạnh hoặc đôi khi chỉ váng đầu

- Mất thăng bằng, choáng, buồn nôn và nôn hay đi kèm bệnh rối loạn tiền đình

- Hoa mắt chóng mặt

- Đỏ mặt bốc hỏa

- Ù tai

- Tức ngực, khó thở

- Chảy máu cam (có dấu hiệu bệnh nặng dần hoặc không biết bị cao HA)

- Hay nóng giận, cáu gắt, dễ bị kích động

- Tiểu ra máu

- Mệt mỏi, chỉ thích nằm nghỉ

- Da mặt đỏ nhưng cũng có thể xanh hoặc xám

- Mắt đỏ dễ bị cao HA (mắt đỏ nhưng không ngứa, có dây máu hoặc chỉ hay căng tức mắt). Mắt vàng dễ bị viêm gan B (lúc nào cũng vàng).

- Nếu có dấu hiệu tê bì chân tay (đặc biệt là cánh tay) thì bệnh đang có dấu hiệu nặng dần lên (nguy cơ tai biến mạch máu não).

 

PHÒNG BỆNH:

- Tập đi bộ hàng ngày

- Ăn nhạt

- Ăn nhiều rau, cá (cá biển thì tốt hơn)

- Kiểm soát cân nặng

- Ngủ đủ giấc

- Không sử dụng đồ kích thích: cà phê, chè búp, thuốc lá, hạn chế bia rượu...

- Không ăn nội tạng động vật, thịt béo...

- Không ăn trứng vịt lộn

- Kiểm tra huyết áp định kỳ.

 

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI:

- Tìm ra nguyên nhân gây bệnh như: béo phì, tăng mỡ máu, tăng mỡ gan, thoái hóa cột sống, bệnh tim mạch, bệnh lý thận, suy thận, sơ gan, u gan, do di truyền...

- Thuốc hạ áp (giãn mạch, lợi tiểu): Nifedipin, Amlo...

- Thuốc điều trị rối loạn tiền đình: Serc, Betahistine...

- Thuốc hoạt huyết dưỡng não: các chế phẩm Đông y...

- Thuốc hạ mỡ máu, hạ mỡ gan, giảm cân: Lypantyl, Simvastatin...

- Thuốc trợ tim nếu có vấn đề về tim mạch: Coversyl...

- Chế độ ăn kiêng...

HÌNH ẢNH THUỐC TÂN DƯỢC

¥¥¥ Đối với cao huyết áp vô căn (không tìm ra nguyên nhân gây bệnh) thì thuốc điều trị chính là: giãn mạch và lợi tiểu.

¥¥¥ Nếu dùng các loại thuốc Tân dược để điều trị CAO HUYẾT ÁP - RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH không hiệu quả, tình trạng bốc hỏa, mất ngủ, đau đầu, loáng choáng, hoa mắt chóng mặt, ù tai không thuyên giảm ta có thể nên kết hợp với thuốc Đông y.

 

CÓ NHIỀU NGUYÊN NHÂN ĐỂ GÂY BỆNH CAO HUYẾT ÁP NHƯNG BẰNG CÁCH NÀY HAY CÁCH KHÁC HÃY ĐƯA VỀ CHỈ SỐ BÌNH THƯỜNG (110/70; 120/80) ĐỂ CÓ THỂ SỐNG KHỎE VÀ TRƯỜNG THỌ.

 

 

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN:

 

Cao huyết áp là một chứng bệnh phạm vi các chứng huyễn vựng (chóng mặt), đầu thống, can dương v. v... của y học cổ truyền.

 

Huyễn là hoa mắt, vựng là có cảm giác chòng chành như ngồi thuyền, quay chuyển không yên, cùng gọi là chóng mặt. Nhẹ thì hết xoay khi nhắm mắt lại, nặng thì kèm theo buồn nôn, nôn, ra mồ hôi, có thể ngã v.v... "Chứng chóng mặt là tối tăm xây xẩm chòng chành như ngồi trên chiếc thuyền con hay trên chiếc xe nghiêng, đứng dậy thì muốn ngã nhào" (Nam dược thần hiệu). Tố vấn chí nhân yếu đại luận ghi: "Chư phong tác huyền, giai thuộc vu can", chữa can là chính. Kim quỹ yếu lược (Trọng Cảnh) ghi: "Tâm hạ hữu đờm, hung hiếp chi mãn, mục huyền". Đan khê tâm pháp ghi: "Võ đờm bất tác huyền" chữa đờm là chính. Còn "Hà Gian lục thư" ghi: "Phong hỏa giai dương, dương đa kiêm hóa, dương chủ hộ động lưỡng dương tương bác, tắc vi tuyền chuyển" chữa hỏa là chính. Cảnh Nhạc toàn thư ghi: " vô hư bất tác huyền", chữa hư là chính.

 

Y trung quan kiện (Hải Thượng Lãn Ông) ghi: "Bệnh chóng mặt, trong phương thư đều chia ra phong hàn thử thấp khí huyết đờm để chữa, đại ý không ngoài chữ hỏa. Âm huyết hậu thiên hư thì hỏa động lên, chân thủy tiên thiên suy thì hỏa bốc lên, bệnh nhẹ thì chữa hậu thiên, bệnh nặng thì chữa tiên thiên. Nam dược thần hiệu (Tuệ Tĩnh) ghi: Bệnh chóng mặt thuộc phong thì đổ mồ hôi, thuộc hàn thì đau nhức, thuộc thử thì nóng nảy buồn phiền, thuộc thấp thì nặng nề trầm trệ... hoặc thất tình uất kết sinh đờm theo khí nghịch lên sinh chóng mặt, hoặc dâm dục quá tổn thận, thận tinh hao tổn không nạp khí về nguyên vị làm khí nghịch xông lên, do đó khí hư sinh chóng mặt, do xuất huyết gây huyết hư sinh chóng mặt, sau đẻ chóng mặt có thể do mất nhiều huyết hoặc huyết ứ không thông, chữa bệnh cần xoay xở linh hoạt, không nên chấp nhất.

 

CAO HUYẾT ÁP - RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH là một hội chứng bệnh hay đi kèm nhau do cùng một gốc bệnh.

 

QUA GẦN 10 NĂM ĐIỀU TRỊ BỆNH CAO HUYẾT ÁP - RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH HÙNG TÔI XIN ĐƯA RA PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ CỦA MÌNH:

 

THỨ NHẤT LÀM THÔNG SUẤT MẠCH MÁU (tĩnh mạch, động mạch và mạch máu não):

(không được làm theo kiểu hoạt huyết mạnh, mà dùng theo phương pháp thẩm thấu và dẫn truyền từ từ).

Chắc chắn rồi, người cao huyết áp và cao huyết áp kéo dài thì mạch máu trong cơ thể sẽ được thông thoáng rồi, vì nhiều yếu tố (tăng mỡ máu, mỡ gan, sơ vữa mạch, lười vận động, tuổi cao... ), khi áp lực máu trong lòng mạch cao thì khác gì như nhiều người qua một chiếc cửa vậy.

Mặt khác ta không thể dùng lực thật mạnh (hoạt huyết) để thông được mà phải thẩm thấu, dẫn truyền từ từ.

 

- Tĩnh mạch:

Tĩnh mạch hay ven là mạch máu thuộc hệ tuần hoàn trong cơ thể, dẫn máu trở về tim ( đối ngược với động mạch đưa máu từ tim ra). Thường thì máu trong tĩnh mạch có lượng ô xi thấp khi đưa máu từ các mô trong cơ thể về tim. Hai ngoại lệ là tĩnh mạch rốn và tĩnh mạch phổi. Tĩnh mạch có dạng ống, khi không có dung lượng thì xẹp xuống. Chức năng của tĩnh mạch là đưa luồng máu kém dưỡng khí về tim.

 

- Động mạch:

Động mạch là mạch máu thuộc hệ tuần hoàn trong cơ thể, dẫn máu từ tim đến các cơ quan. Máu trong động mạch có lượng ô xi cao, ngoại trừ ở động mạch phổi và động mạch rốn. Động mạch có dạng ống, chức năng của động mạch là đưa luồng máu mang ô xy từ tim đến các tế bào.

 

- Mạch máu não:

Mạch máu não là một hệ thống gồm vô số mạch máu nhỏ (vô cùng nhỏ bé) và là mạch máu tận cùng, nhằm đảm bảo cho hoạt động chuyển hóa rất cao trong não người. Mặc dù chỉ chiếm 2% trọng lượng cơ thể, nhưng não người lại cần đến 20 - 25% tổng lượng máu để hoạt động. Mạch máu não giúp vận chuyển oxy, glucose và các dưỡng chất cần thiết cho não giúp chúng loại bỏ các chất thải được sinh ra trong quá trình chuyển hóa trong não. Khi dòng máu giảm thấp xuống mức cần thiết cho sự chuyển hóa, não thiếu máu sẽ bị tổn thương, các chức năng suy giảm. Nếu tình trạng này kéo dài, mô não sẽ bị tổn thương khó hồi phục, thậm chí bị tổn thương vĩnh viễn. Gây các bệnh lý mạch máu não: thiếu máu não, tai biến mạch máu não, đau nửa đầu, bệnh lý thoái hóa thần kinh, suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh alzheimer và parkinson…

Tổng chiều dài của tất cả các mạch máu não cộng lại là 160.000 km đủ để cuốn trái đất 4 vòng. Mặt khác não là cơ quan "béo" nhất trong cơ thể con người với hơn 60% là chất béo (lippid) nếu chúng ta không biết kiểm soát trong chế độ ăn và vận động sẽ rất nguy hiểm.

Não của con người gồm có hai bán cầu não: não phải và não trái. Não phải chi phối hoạt động của nửa người trái và ngược lại. Não của người già, người cao tuổi có kèm theo các bệnh lý: tăng huyết áp, hạ huyết áp, thiếu máu não, tăng tiểu cầu, hạ tiểu cầu, tăng hồng cầu, tăng mỡ máu, tăng mỡ gan, khớp... dễ bị chứng nhũn não. Ngày nay số lượng người bị bệnh tăng huyết áp, bệnh tai biến mạch máu não đang trẻ hóa dần, đang đến sớm hơn nếu như chúng ta không quan tâm, không kiểm soát sớm sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội.

 

CHÍNH VÌ SỰ AN NGUY CỦA BỘ NÃO CỦA CHÚNG TA MÀ TÔI ĐÃ VIẾT LÊN TIÊU ĐỀ BÀI VIẾT NÀY.

 

THỨ HAI LÀM DÒNG MÁU TRONG CƠ THỂ CHẢY CHẬM LẠI ĐỂ CƠ THỂ KỊP PHẢN ỨNG CUNG CẤP THÊM Ô XI CHO MÁU.

 

Muốn dòng máu trong cơ thể chảy chậm lại ta phải làm được các điều sau:

 

- Làm lợi tiểu: rút nước qua đường tiết niệu.

- Làm giảm áp lực trong lòng mạch.

- Làm giảm tính nóng của can, giúp can sơ tiết điều đạt.

Qua điều trị tôi thấy 10 thì có tới 9 người cao huyết áp là có yếu tố hỏa, đờm, thấp, nhiệt... rất ít là bị chứng hàn.

 

PHƯƠNG THUỐC:

Bài 1

  Xa tiền tử                                 16g

  Bạch linh                                  12g

  Trạch tả                                    10g

  Bạch truật                                 10g

  Bán hạ                                        8g

  Câu đằng                                   12g

  Thiên ma                                     6g

  Đỗ trọng                                    10g

  .....

  ....................... kết hợp một số vị thuốc quý giúp điều trị bệnh hiệu quả.

 

 

Bài 2

Thuốc tán đặc trị uống vào buổi sáng trước bữa ăn 15 phút

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ VÀ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ XIN LIÊN HỆ THEO ĐỊA CHỈ BÊN DƯỚI !

 

MỘT SỐ VỊ THUỐC ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP:

 

 

* XA TIỀN TỬ

VỊ THUỐC MÃ ĐỀ

Xa tiền tử còn gọi là hạt mã đề là hạt phơi hay sấy khô của cây Mã đề. Cây Mã đề mọc hoang và được trồng khắp ở nước ta. Xa tiền tử vị ngọt, tính hàn, vào 3 kinh thận, can, phế. Tác dụng: lợi thủy thanh thấp nhiệt, thảm thấp chỉ tả, thanh can minh mục, thanh phế hóa đàm, thanh nhiệt giải độc. Chủ trị: các chứng phù thũng, chứng lâm, thấp tả, mắt đỏ, ho do phế nhiệt. Sách Bản kinh: "chủ khí lung cầm đau, lợi tiểu tiện, trừ thấp tý". Sách Bản thảo cương mục: "trị tiểu trường nhiệt, thấp nhiệt tả lỵ... thuốc lợi thủy đạo mà không hại khí, thủy đạo lợi thì thanh trọc được phân mà hết tiêu chảy".

 

* TRẠCH TẢ

Trạch tả còn có tên Mã đề nước là thân củ chế biến phơi khô của cây Trạch tả. Cây Trạch tả  mọc hoang ở vùng ẩm ướt nhiều nơi ở nước ta như Cao Bằng, Lạng Sơn, Điện Biên, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình. Hái lấy rễ củ rửa sạch, cạo hết rễ nhỏ, phơi hay sấy khô làm thuốc. Trạch tả vị ngọt nhạt tính hàn. Tác dụng: thẩm thấp nhiệt, lợi tiểu thông lâm, tiết hỏa tà. Chủ trị các chứng phù, viêm đường tiết niệu, viêm thận, ỉa chảy do viêm ruột cấp và mạn tính, chứng huyễn vựng. Sách Danh Y biệt lục: "chỉ tả cầm tinh, trị tiêu chảy, chứng lâm, trục thủy tại bàng quang, tam tiêu". Sách Bản thảo mông toàn: "Trạch tả tuy uống nhiều làm mờ mắt, uống ít lần làm sáng mắt vì thuốc tả phục thủy nên thủy bị trục thì mắt sáng, nếu uống nhiều lợi tiểu tiện thận khí hư thì mắt mờ". Sách Dược phẩm hóa nghĩa: "phàm chứng tả tiểu ít mà nhiều lần, dùng Trạch tả thanh nhuận phế khí, thông điều thủy đạo, hạ thâu bàng quang, chủ trị chứng thủy tả thấp tả, khiến phân rắn lại mà tỳ khí tự hồi phục".

 

* BẠCH LINH

Còn có tên khác là Phục linh, Bạch phục linh là một loại nấm mọc ký sinh trên rễ cây thông thuộc họ Nấm lỗ. Nấm Phục linh cắt ngang có rễ thông ở giữa gọi là phục thần (có tác dụng an thần) nếu ruột màu trắng gọi là Bạch phục linh, nếu là màu hồng xám thì là Xích phục linh. Bạch linh vị ngọt nhạt, tính bình. Tác dụng: lợi thủy thẩm thấp, kiện tỳ ích khí, sinh tân chỉ khát, an thần. Chủ trị các chứng tiểu ít, khó, phù, chứng đàm ẩm, tỳ khí hư nhược, hồi hộp mất ngủ, tiêu chảy. Sách bản kinh: "chủ ngực sườn khí nghịch, tinh thần lo lắng sợ hãi, tâm hạ kết thống (đau tức mỏm ức), nóng lạnh bứt rứt, khái nghịch (ho khó thở) mồm lưỡi khô, lợi tiểu tiện". Sách Bản thảo diễn nghĩa: "phục linh, phục thần có tác dụng hành thủy mạnh, ích tâm tỳ". Sách Bản thảo cương mục: "chứng tâm hư phong huyền, thiếu phục linh không trị được...".

 

 

* BẠCH TRUẬT

Bạch truật là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Bạch truật. Bạch truật còn có tên khác là Ư truật, Đông truật, Triết truật. Bạch truật vị đắng, ngọt, tính ôn, vào 2 kinh Tỳ, Vị. Tác dụng: bổ khí, kiện tỳ, táo thấp, sinh tân, lợi thủy, liễm hãn, an thai, chỉ tả, khai vị tiêu thực. Chủ trị: tỳ vị khí hư, nôn mửa, bụng đầy chướng, đi ỉa lỏng, chứng tự ra mồ hôi, đàm ẩm thấp nhiệt, thủy thũng, động thai. Sách Bản kinh: "Chủ phong hàn thấp tý, kinh, vàng da, chỉ hãn, trừ nhiệt tiêu thực". Sách Danh y biệt lục: "chủ mình mẩy mặt mày sưng to, đau đầu, váng đầu, chảy nước mắt, tiêu đàm thủy, trục phong thủy kết thũng dưới da, trừ tâm hạ cấp mãn, (chứng đầy ức mỏm ức) và chứng hoắc loạn thổ tả không cầm... ích tân dịch, làm ấm vị, tiêu cốc".

 

* BÁN HẠ

Bán hạ còn có tên khác là Củ chóc, Nam tinh là củ thái lát thành phiến đã được chế biến. Bán hạ vị cay, tính đắng, có độc, vào 3 kinh: phế, tỳ, vị. Tác dụng: táo thấp hóa đờm, giáng nghịch cầm nôn (chỉ ẩu), chỉ khái, hòa vị kiện tỳ, tiêu thũng tán kết. Chủ trị: đàm thấp, nôn mửa do thai nghén, ho trong chứng cảm mạo phong hàn, nôn mửa do rối loạn tiêu hóa. Sách Bản kinh: "Chủ thương hàn nhiệt, tâm hạ kiên, hạ khí, cổ họng sưng đau, váng đầu, ngực đầy, khái nghịch, tràng minh (sôi bụng), cầm mồ hôi (chỉ hãn). Sách Danh Y biệt lục: "tiêu tâm phúc hung cách đàm nhiệt mãn kết, khái thấu thương khí, tâm hạ cấp thống, kiên bỉ, thời khí ẩu nghịch, tiêu ung thũng".

 

 

* ĐỖ TRỌNG

Đỗ trọng là vỏ phơi sấy khô dùng làm thuốc của cây Đỗ trọng thuộc họ Đỗ trọng. Còn có tên là Mộc miên vì trong vỏ có chất sợi tơ bạc mềm mại. Đỗ trọng

vị ngọt, hơi cay, tính ôn. Tác dụng: bổ can thận, mạnh gân cốt, an thai, hạ huyết áp. Chủ trị thận hư đau lưng, liệt dương, đái són, thai động, thai lậu, trụy thai, cao huyết áp. Sách Bản kinh: "chủ yêu cốt thống, bổ trung, ích tinh khí, kiện gân cốt, cường chí, trị âm nang ngứa chảy nước, tiểu gắt". Sách Danh y biệt lục: "trị chân đau nhức không muốn bước". Sách Bản thảo bị yếu: "nhuận can táo, bổ can hư, trị lưng gối đau nhức (vùng bìu dái, âm hộ ngứa, chảy nước), tiểu tiện són, thai lậu, trụy thai". Ứng dụng để điều trị cao huyết áp, nhũn não, tai biến mạch máu não, đột quỵ hiệu quả.

 

* CÂU ĐẰNG

Câu đằng là thân có gai móc của cây câu đằng, phơi hay sấy khô. Câu đằng còn có tên khác là Dây móc câu, Dây gai mấu. Câu đằng vị ngọt hơi hàn. Tác dụng: bình can, trấn kinh, thanh nhiệt. Chủ trị: cao huyết áp do can dương thịnh, co giật do phong nhiệt, trẻ em sốt cao co giật, khóc đêm. Sách Danh Y biệt lục: "trị trẻ em hàn nhiệt kinh giản". Sách dược tính bản thảo: "trị trẻ em kinh phong, sốt co giật, uất ván trẻ sơ sinh". Sách Bản thảo cương mục: "người lớn chóng mặt hoa mắt, thuốc bình can phong, trừ tâm nhiệt, phát ban chẩn. Câu đằng là thuốc của thủ túc quyết âm, túc quyết âm chủ phong, thủ quyết âm chủ hỏa, kinh nhàn huyễn vựng, đều là chứng của can phong dương hỏa, câu đằng thông tâm bào đến can mộc, phong tĩnh hỏa tức, các chứng bệnh sẽ hết".

 

 

* THIÊN MA

Thiên ma còn gọi là Minh thiên ma, Xích tiễn, Đinh phong thảo là thân rễ hay sấy khô của cây thiên ma. Thiên ma vị cay, tính bình. Tác dụng: bình can tức phong, trấn kinh, tiềm dương. Chủ trị: can dương vượng, đầu choáng mắt hoa, nói không rõ, bại liệt, kinh phong co giật, phong hàn thấp. Sách Bản kinh: "uống lâu ích khí lực, tăng tuổi thọ...". Sách Dược tính bản thảo: "trị chứng nói nhiều, dễ hoảng hốt, làm kinh mất trí". Sách Khai bảo bản thảo: "chủ trị các chứng phong thấp tý, chân tay co giật, trẻ em kinh phong, làm khỏe lưng gối, tăng lực gân cơ". Sách Trân châu nang: "trị phong hư huyễn vựng đầu thống".

 

Bệnh CAO HUYẾT ÁP - RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH đã có và xuất hiện hàng nghìn năm nay rồi, ngày nay người ta phát hiện và dùng máy để đo được. Còn thời xưa người ta đã quy nó về chứng bệnh Huyễn vựng trong Y Học Cổ Truyền (do cùng một gốc bệnh sinh ra). Hậu quả của căn bệnh này nếu để kéo dài là gây đột quỵ não hay tai biến mạch máu não.

Không cần nói đâu xa chỉ cách đây vài chục năm thôi (năm 1986) chẳng hạn, khi đó Hùng tôi còn rất nhỏ (7 tuổi) trường hợp một bác nông dân đi cày và bị ngã vật ra ngoài đồng được người nhà đưa về và cho là bị trúng gió, được một bà lang cấp cứu bằng nước tiểu trẻ em mài với răng hổ nhưng bác đã không qua khỏi sau vài ngày. Hay một trường hợp khác một bệnh nhân nam trên 70 tuổi vào một đêm có gió mùa đông Bắc tràn về (năm 1999) đã đi ra ngoài vệ sinh (vì thời điểm này chưa có nhà vệ sinh khép kín như bây giờ), sau đó vào đến nhà là bị trúng phong luôn, miệng mắt méo xệch, đờm dãi đưa lên, nói ngọng sau đó thì cấm khẩu, tinh thần mê man, hoảng hốt... Khi gọi thầy thuốc đến khám đo huyết áp đã tăng rất cao, sau đó gia đình đã đưa Bác đi viện.

 

Nếu được ĐIỀU TRỊ ĐÚNG VÀ SỚM bằng Y Học Cổ Truyền cơ hội khỏi bệnh của người bệnh là rất cao.

 

Mong ước làm lành các vết đau người bệnh !

                                                                                         

Hùng tôi, kính bút !

 

Hỗ Trợ Tư Vấn: 07h - 20h

 

PHÒNG CHẨN TRỊ Y HỌC CỔ TRUYỀN

Lương y VŨ VĂN HÙNG

ĐC: Đội 6 xã Giao Nhân - huyện Giao Thủy - tỉnh Nam Định

ĐT: 02283.734838 - 0904994555 - 0838689555 - 0968602687

 

 

 

 

Sản phẩm liên quan

Hữu Ích

Thống kê

158859
Số người đang online 3
Số truy cập hôm nay 51
Số truy cập tháng này 19725

Hỗ trợ trực tuyến

  • Tư vấn: 0838. 689 555
    My status
  • Gọi : 0968. 602 687
    My status
  • Gọi : 0904. 994 555
    My status
  • Hotline: 02283.734 838