Phương Pháp Điều Trị Tận Gốc VIÊM DA DỊ ỨNG MỀ ĐAY

Phương Pháp Điều Trị Tận Gốc VIÊM DA DỊ ỨNG MỀ ĐAY



English Vietnamese
banner

Lương y Vũ Văn Hùng - Mong ước làm lành các vết đau người bệnh !
|

Video

Tác dụng của phuơng pháp có thể thay đổi và điều chỉnh tùy theo tình trạng thể chất mỗi nguời

Tin tức mới

  • bullest  Nhận biết và điều trị bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới

    Dấu hiệu nhận biết, cách điều trị và phòng ngừa bệnh suy giãn tĩnh mạch chân (hay còn gọi là suy giãn tĩnh mạch chi dưới hay suy van tĩnh mạch chi dưới).
  • bullest  6 báo hiệu cơ thể có cục máu đông

    Cục máu đông tác động đến tuần hoàn máu, gây thuyên tắc động mạch phổi, phá huỷ chức năng của phổi và các bộ phận khác, thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Vì thế nhận biết sớm các dấu hiệu xuất hiện cục máu đông rất quan trọng để điều trị kịp thời. Dưới đây là 6 dấu hiệu dễ bị bỏ qua cần lưu ý.
  • bullest  Vì 10 lý do sau, bạn nên ăn cá nhiều hơn

    Cá là thực phẩm có hàm lượng calo thấp, bạn có thể ăn chúng thường xuyên mà không cần lo lắng về vấn đề cân nặng. Có nhiều lý do để bạn nên ăn cá. Nó cũng được gọi là thực phẩm tốt cho não vì nó có chứa axit béo omega-3. Những chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể của bạn mà không có nhiều trong chế độ ăn.
  • bullest  10 thực phẩm tuyệt đối không nên để trong tủ lạnh

    Bạn nghĩ rằng tất cả thực phẩm bạn để trong tủ lạnh có thể giữ được hương vị hay mùi thơm của chúng. Tuy nhiên 10 thực phẩm dưới đây bạn tuyệt đối không nên để trong tủ lạnh nhà mình.
  • bullest  5 cách thải độc gan ngay tại nhà hiệu quả nhất

    Gan là bộ phận trực tiếp lọc các chất độc của cơ thể rồi “tống khứ” nó ra bên ngoài để giúp cơ thể khỏe mạnh không bị nhiễm độc.Tuy nhiên, khi làm việc trong 1 thời gian dài bản thân gan cũng sẽ bị nhiễm độc do đó, bạn nên thường xuyên thải độc để giúp gan khỏe mạnh.
Phương Pháp Điều Trị Tận Gốc VIÊM DA DỊ ỨNG MỀ ĐAY
Phương Pháp Điều Trị Tận Gốc VIÊM DA DỊ ỨNG MỀ ĐAY

Phương Pháp Điều Trị Tận Gốc VIÊM DA DỊ ỨNG MỀ ĐAY Của Hùng tôi !

 

  • Nội dung chi tiết
  • Gửi yêu cầu báo giá

Thời gian gần đây số người mắc chứng bệnh Viêm da dị ứng mề đay (dân gian gọi là bệnh mề đay, mẩn ngứa, mẩn tịt, phong ngứa, phong lạnh...) ở nước ta ngày càng tăng lên đáng báo động. Theo báo cáo của Bệnh Viện Da Liễu Trung Ương thì Việt Nam có khoảng 40% dân số mắc các bệnh về da, trong đó số lượng mắc bệnh dị ứng nổi mề đay chiếm tỉ lệ khá cao. Tuy nhiên, số người ý thức được mối nguy hại đến từ các bệnh ngoài da đặc biệt là bệnh mề đay là không nhiều. Hầu hết những người mắc chứng bệnh không đi khám và điều trị mà điều trị tại nhà, bằng các bài thuốc dân gian hoặc sử dụng các thuốc kháng histamine có bán trên thị trường. Dẫn đến tình trạng bệnh không được chữa khỏi hay tái phát và đôi khi gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Có thể là do môi trường ô nhiễm, khí hậu, thực phẩm nhiễm bẩn, chất bảo quản trong chăn nuôi, cơ địa dị ứng với các tác nhân (hoa, sơn, hải sản sống lạnh, bột mì, vải vóc mới, xi măng, thời tiết lạnh... ), yếu tố di truyền, sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm, ký sinh trùng... Nếu không được điều trị sớm và đúng phác đồ bệnh sẽ thành mạn tính gây khó chữa, chi phí tốn kém, đồng thời có thể tồn tại trong cơ thể rất nhiều bệnh.

Cách đây khoảng hai hoặc ba năm đã có một số bệnh nhân mắc chứng bệnh này, điển hình như trường hợp chị Nguyễn Thị Ngọc Mai (sinh năm 1984) ở Hội An, Quảng Nam, chị Thạch Thị Tha Ri (sinh năm 1986) ở Vĩnh Lợi, Bạc Liêu và chị Nguyễn Thị Phượng (28 tuổi) ở Giồng Trôm, Bến Tre. Một phần do thiếu hiểu biết đã tự ý mua và điều trị tại nhà các loại thuốc tân dược, kem bôi, thuốc Nam, Bắc do người quen mách. Đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đó là ba chị này từ những phụ nữ trẻ đẹp, khỏe mạnh, xuân xanh đã bỗng chốc trở thành bà lão 80 với làn da chảy xệ, xù xì, đen xạm. Và mới đây tôi được biết chị Nguyễn Thị Phượng ở Bến Tre đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi 30 do chảy máu dạ dày, xuất huyết tiêu hóa. Do quá trình dùng thuốc kéo dài, do cơ địa dị ứng, do lạm dụng thuốc không nguồn gốc, thuốc giả các chị đã bị thêm hội chứng Cushing trong Y Học Hiện Đại. Vậy thuốc nào có thể gây nên Cushing và các tác dụng phụ khác khi không được sử dụng đúng chỉ định ? đó chính là dòng thuốc kháng viêm Corticoid (là một nguyên nhân mà ta không thể loại trừ).

 

Corticoid là thuốc gì ?

 

Corticoid là một chất nội tiết do 2 tuyến thượng thận tiết vào máu, 2 tuyến này nằm ngay ở phía trên 2 quả thận. Bình thường, Corticoid (nội sinh) giúp cơ thể chống lại những tình huống nguy kịch (chấn thương, đau đớn, nhiễm trùng... ). Corticoid (tân dược) được dùng để điều trị và phòng ngừa nhiều bệnh, tuy nhiên với những trường hợp dùng không đúng hoặc quá lạm dụng, thuốc luôn là con dao sắc 2 lưỡi, cần có thầy thuốc giỏi để xử lý, thuốc được xếp vào nhóm thuốc độc nhóm B.

 

Hay theo tác giả dược sỹ Trương Tất Thọ:

 

CORTICOID LÀ THUỐC GÌ?

Ðó là những nội tiết tố (hormone) do vỏ nang thượng thận (cortico-surrénale) tiết ra, có cấu trúc hóa học steroid nên được gọi tắt là nhóm thuốc corticoid. Ðến nay người ta đã tổng hợp được rất nhiều nhóm thuốc steroid và sử dụng rộng rãi, đồng thời cũng kéo theo tình trạng lạm dụng thuốc rất phổ biến.

THUỐC HAY VÌ CÓ NHIỀU CÔNG DỤNG TRỊ BỆNH

Những tên khoa học của thuốc như Hydrocortison, Prednison, Betamethason, Dexamethason, Prednisolon... cho thấy các nhóm thuốc này rất đa dạng, nhiều chủng loại và mỗi loại lại có rất nhiều tên thương mại khác nhau.

Thuốc có nhiều công dụng điều trị:

- Chống viêm ở giai đoạn sớm, giai đoạn muộn bất kể nguyên nhân gì như cơ học, hóa học, nhiễm khuẩn, dị ứng. Chỉ riêng với đặc tính này, thuốc cũng đã trị được nhiều loại bệnh như viêm khớp do thấp khớp, bệnh thoái hóa khớp, viêm các khớp ngoại vi, những tình trạng bệnh lý do chấn thương khớp, trị sẹo lồi, sẹo phì đại (khoa da), trị viêm phần trước mắt (khoa mắt), trị viêm mũi (khoa tai mũi họng)...

- Chống dị ứng: Dùng điều trị trong các bệnh dị ứng da, dị ứng đường hô hấp, hen suyễn nặng...

- Ngoài ra còn nhiều chỉ định chuyên môn khác do tác dụng đa dạng của thuốc như bệnh da pemphigut, vảy nến, bệnh giảm tiểu cầu thứ phát vô căn của người lớn, bệnh thiếu máu tán huyết do tự miễn...

Chính vì đa công dụng như thế nên nhiều người đã lầm tưởng rằng thuốc corticoid là loại thần dược trị được bá bệnh.

TÁC HẠI CỦA VIỆC LẠM DỤNG THUỐC

Việc lạm dụng corticoid sẽ gây rất nhiều tác hại cho người dùng. Nhiều loại kem trị mụn chứa corticoid nếu dùng dài ngày sẽ làm mụn nổi nhiều hơn khi ngưng thuốc hoặc gây nám da mặt:

Dùng thuốc nhỏ mắt chứa corticoid (tưởng nhầm là thuốc rửa trong mắt, giúp mắt sáng long lanh) sẽ dẫn đến đục thủy tinh thể, thấy cảnh vật mờ mờ ảo ảo...

Những tai biến chính do lạm dụng corticoid:

- Tăng cân do giữ natri, đào thải kali gây béo bệu, mặt tròn như mặt trăng.

- Làm cao huyết áp, tăng đông máu có thể gây nghẽn mạch.

- Chậm liền sẹo các vết thương và dễ gây nhiễm khuẩn thứ phát.

- Làm thoái biến protid nên dễ gây teo cơ.

- Làm xương xốp do giảm hấp thu calci nên khi té ngã dễ bị gãy xương.

- Làm loét dạ dày - tá tràng, dễ gây xuất huyết tiêu hóa.

- Ức chế miễn dịch, giảm sức đề kháng của cơ thể.

- Làm tăng tiết mồ hôi, co giật, tăng áp lực nội sọ, rối loạn kinh nguyệt, ảo giác, vui vẻ thái quá, tăng nhãn áp.

Ðấy là lý do vì sao thuốc corticoid nhất thiết cần có chỉ định điều trị của thầy thuốc.

CHÍNH VÌ HIỂU ĐƯỢC CƠ CHẾ LÀM VIỆC CỦA TUYẾN THƯỢNG THẬN  CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI MÀ TA CÓ THỂ ÁP DỤNG ĐIỀU TRỊ BỆNH MỀ ĐAY BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÔNG Y.

VỚI TÂY Y LÀ ĐƯA CORTICOID (TÂN DƯỢC) VÀO TRỊ BỆNH VÀ THAY THẾ CORTICOID NỘI SINH, THÌ VỚI ĐÔNG Y LÀ PHỤC HỒI VÀ LÀM CHO TUYẾN THƯỢNG THẬN KHỎE LÊN (NỘI SINH) VÀ TỰ CHỮA BỆNH. PHẢI CHĂNG CÓ SỰ LIÊN HỆ MẬT THIẾT NÀO ĐÓ GIỮA THẬN TRONG TÂY Y VÀ THẬN TRONG ĐÔNG Y DÙ LÀ CHƯA CÓ MỘT TÀI LIỆU NÀO ĐỀ CẬP TỚI ĐIỀU NÀY.

ĐÃ CÓ TÍN HIỆU CHUNG NHƯ VỀ VẤN ĐỀ TẠO MÁU THÌ CẢ ĐÔNG Y VÀ TÂY Y ĐỀU CHO RẰNG THẬN CÓ TÁC DỤNG TẠO MÁU (MỘT DANH TỪ CHUNG), HOẶC ĐỂ ĐIỀU TRỊ CHỨNG BỆNH THIẾU MÁU TRONG TÂY Y TÔI ĐÃ DÙNG PHƯƠNG PHÁP BỔ THẬN TRONG ĐÔNG Y (CHÍNH LÀ CHỨNG THẬN ÂM HƯ) VÀ HỌ ĐÃ KHỎI CHỨNG THIẾU MÁU TRONG TÂY Y.

 

Trong sách điện tử Bách Khoa Toàn Thư có viết:

 

Erythropoietin và đáp ứng với tình trạng thiếu ôxy[sửa | sửa mã nguồn]

Một hormon tên gọi erythropoietin (EPO) là chất kích thích chính yếu của quá trình tạo hồng cầu để đáp ứng với tình trạng thiếu ôxy. Đó là một glycoprotein có khối lượng phân tử 34 KDa. Thiếu vắng hormon này, tình trạng thiếu ôxy không làm tăng hoặc làm tăng không đáng kể hoạt động tạo hồng cầu. Bình thường, tình trạng thiếu ôxy sẽ làm tăng đáng kể sự sản xuất erythropoietin, kéo theo là sự tăng sản xuất hồng cầu cho đến khi tình trạng thiếu ôxy được giải quyết.

Erythropoietin được sản xuất chủ yếu tại thận[sửa | sửa mã nguồn]

Ở người bình thường, 90% lượng erythropoietin trong cơ thể được sản xuất ở thận (phần còn lại chủ yếu được sản xuất ởgan). Hiện nay người ta chưa biết chính xác phần nào của thận sản xuất hormon này.

Có giả thuyết cho rằng các tế bào biểu mô ống thận tiết erythropoietin, bởi ống thận có nhu cầu ôxy rất cao, sự thiếu ôxy sẽ kích thích khu vực này tiết EPO.

Tuy nhiên, khi có tình trạng thiếu ôxy cục bộ tại những cơ quan khác (khi thận vẫn được cấp máu đầy đủ), chức năng tạo erythropoietin của thận vẫn được kích thích. Do đó người ta tin rằng còn có những cảm thụ quan ngoài thận đã gửi tín hiệu đến thận. Thực nghiệm đã cho thấy norepinephrinepinephrin và vài prostaglandin có vai trò kích thích sản xuất erythropoietin.

Khi cả hai thận bị mất chức năng do bệnh hoặc bị cắt bỏ, bệnh nhân sẽ bị thiếu máu nặng, do lượng erythropoietin sản xuất bởi gan và các  khác chỉ đảm bảo cho sự sản xuất hồng cầu được có 1/3 đến 1/2 nhu cầu.

Tác động của erythropoietin trong sự tạo sinh hồng cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính erythropoietin

Người ta biết rằng erythropoietin đẩy nhanh sự phát triển của các nguyên hồng cầu qua các giai đoạn biệt hóa tiếp theo. Dĩ nhiên, tác động của erythropoietin cũng có kiểm soát, tuân theo cơ chế phản hồi.

 

HAY NHƯ CƠ CHẾ KHI XƯƠNG BỊ ĐAU NHỨC (SANG CHẤN, LOÃNG XƯƠNG, THOÁI HÓA, ĐAU KHỚP... ) THÌ PHƯƠNG PHÁP BỔ THẬN TRONG ĐÔNG Y ĐÃ LÀM CHO XƯƠNG KHỎE HƠN VÀ HẾT ĐAU NHỨC (CHÍNH LÀ LÀM CHO TUYẾN THƯỢNG THẬN TRONG TÂY Y SINH CORTICOID THIÊN NHIÊN).

PHƯƠNG PHÁP BỔ THẬN (CHÍNH XÁC LÀ CAN THẬN) ĐỂ CHỮA THOÁI HÓA XƯƠNG, KHỚP NÀY CÓ NGAY TRONG SÁCH BÀI GIẢNG Y HỌC CỔ TRUYỀN CỦA ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI (THOÁI HÓA KHỚP TRANG 163 VÀ THOÁI HÓA XƯƠNG TRANG 168 TẬP 2), VÀ TÔI TIN CHẮC RẰNG PHƯƠNG PHÁP TRÊN KHÔNG CHỈ CÓ HÙNG TÔI SỬ DỤNG MÀ ĐÃ CÓ HÀNG NGÀN THẦY THUỐC ĐÔNG Y SỬ DỤNG.

HAI PHƯƠNG PHÁP BỔ THẬN ĐỂ BỔ MÁU VÀ BỔ THẬN ĐỂ KHỎE MẠNH XƯƠNG CỦA ĐÔNG Y ĐÃ ĐÁP ỨNG NHỮNG ĐIỀU MÀ TÂY Y KHÔNG LÀM ĐƯỢC, ĐÓ CHÍNH LÀ KÍCH HOẠT VÀO TẾ BÀO GỐC, TẾ BÀO TỦY XƯƠNG VÀ LÀM MỚI NÓ LẠI.

 

TÌM RA DƯỢC CHẤT CORTICOID HÓA HỌC ĐỂ TRỊ BỆNH ĐAU NHỨC, THOÁI HÓA, VIÊM NHIỄM... LÀ ĐIỀU KỲ DIỆU CỦA KHOA HỌC VÀ NỀN Y HỌC HIỆN ĐẠI NÓI RIÊNG. NHƯNG TỪ NGÀN NĂM NAY CÁC DANH Y DÙ CHƯA CÓ MÁY MÓC ĐỂ PHÂN TÍCH CHUYÊN SÂU NHƯNG HỌ ĐÃ BIẾT LÀM CHO THẬN KHỎE LÊN VÀ TỰ SẢN XUẤT CORTICOID NỘI SINH ĐỂ TỰ CHỮA BỆNH THÌ CŨNG THẬT LÀ HUYỀN DIỆU THAY !

 

Vậy Cushing là gì ?

 

Do thuốc Corticoid có tác dụng giữ nước và chất khoáng natri trong cơ thể gây phù, gây rối loạn chuyển hóa lipip và làm đọng mỡ lại ở trên mặt, cổ và lưng, nên người dùng thuốc lâu ngày sẽ béo phì, mặt tròn như mặt trăng, nhưng thật ra cơ thể lại bị teo cơ (đây là các biểu hiện trong hội chứng Cushing). Thuốc còn gây cảm giác thèm ăn làm cho người dùng thuốc thấy ăn ngon hơn.

 

Thời gian đầu dùng thuốc dòng Corticoid bệnh nhân béo lên, đặc biệt là mặt rất to, phù, da mặt căng mịn (dân gian gọi là tích nước), nhưng sau đó một thời gian ngắn, công dụng ức chế chống viêm lúc này bị phản tác dụng quay sang làm yếu hệ thống bảo vệ da, dễ bị các yếu tố từ môi trường tác động gây viêm da kích ứng, nổi mụn kịch phát, giãn mạch máu sâu trong da, gây chảy xệ, làn da không thể sinh sản đủ tế bào mới bù đắp cho tế bào chết dẫn tới xù xì, đen xạm... Mi mắt trên và dưới sụp xuống như người già, màu da trên khuôn mặt có thể hơi đỏ nhẹ hoặc xám bệch, không còn khuôn mặt trắng trẻo gọn gàng của một người bình thường. Không chỉ với bề ngoài, khuôn mặt bị thay đổi chóng mặt như vậy mà với bên trong các cơ quan nội tạng của các chị còn bị một số bệnh nguy hiểm khác như: phế quản, phổi, dạ dày, gan, thận, huyết áp...

 

Nguyên nhân sâu xa là các chị này đã sử dụng quá nhiều thuốc, không đúng chỉ định, không đúng phác đồ, lạm dụng thuốc. Cơ thể của các chị nó như một chiếc bình ắc quy 10 vôn mà nó chỉ có thể chịu với dòng điện vừa đủ nhưng chính các chị, thuốc tân dược đã đưa vào cơ thể các chị với dòng điện 50 vôn hoặc cao hơn rất nhiều.

 

Uống thuốc tân dược để trị chứng bệnh mề đay khi không hiệu quả với dòng kháng histamin (chống dị ứng) các dược sỹ sẽ tăng liều mạnh lên gọi là dòng kháng viêm Corticoid, nếu điều trị kéo dài sẽ gây nên tác dụng phụ như: Cushing, xuất huyết ngoài da, gây mỏng da (vì người trẻ tế bào da dày và đàn hồi tốt còn khi dùng các loại thuốc này da sẽ bị mỏng và dễ vỡ như người già), lão hóa da trước tuổi, đào thải can xi trong xương, teo cơ, kích thích mọc lông, dậy thì sớm, loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, tăng đường huyết, tăng huyết áp, rong kinh, tổn thương thận và suy thận... Bắt đầu uống các loại thuốc này bệnh nhân thấy dễ chịu, nhưng lâu dần, bệnh tái phát, điều trị lâu dài sẽ không còn tác dụng gây nhờn thuốc, phải uống dài ngày hơn hoặc là tăng liều lên mới có hiệu quả. Một điều tiềm ẩn nguy hiểm nữa là người bệnh hay dừng đột ngột mà không giảm liều từ từ dẫn tới nguy cơ Cushing cao, suy thận. Và người bệnh lúc này sẽ càng đi nhiều nơi để điều trị, không khỏi chỗ này ta đến chỗ khác, mách đâu đến đó, tâm lý nóng ruột, kèm theo trạng thái cơ thể khó chịu không bình thường. Hết thuốc Tân dược đến thuốc Nam, thuốc Đông y.

 

THUỐC ĐÔNG Y CŨNG CÓ THỂ GÂY CUSHING NHƯ UỐNG CAM THẢO KÉO DÀI VỚI HÀM LƯỢNG LỚN, NGƯỜI THỂ TẠNG BÉO MÀ LẠI UỐNG NHIỀU THUỐC CỐ TINH SÁP NIỆU, BỊ CAO HUYẾT ÁP MÀ KHÔNG BIẾT LẠI UỐNG CÁC LOẠI THUỐC TRÊN. NHƯNG CUSHING DO THUỐC ĐÔNG Y KHÔNG GÂY NHIỀU BIẾN CHỨNG NGUY HIỂM NHƯ TÂY Y, NẾU DỪNG THUỐC THÌ CƠ THỂ CÓ THỂ TỰ THANH THẢI TRONG THỜI GIAN NGẮN.

 

Điều trị Tân dược phác đồ điều trị chung là:

 

- Thuốc kháng histamine (thuốc chống dị ứng: citirizin, clopheramin...).

 

- Vitamin c.

 

- Bổ gan Boganic một chế phẩm Đông y.

 

- Nếu bệnh nhân bị nặng sẽ cộng thêm dòng Corticoid dạng uống.

 

- Đôi khi có kèm theo thuốc mỡ bôi lên mặt da nơi bị bệnh nhưng thành phần chính của các thuốc này cũng là một dạng Corticoid như đã giới thiệu ở trên.

 

- Cũng có trường hợp phải tiêm nhưng phương pháp này không sử dụng được lâu dài.

 

- Tìm ra tác nhân gây bệnh dị ứng...

 

Thuốc kháng histamin là gì ?

 

Thuốc kháng histamin là loại thuốc được sử dụng phổ biến trong điều trị dị ứng hiện nay.

 

Histamin là gì ?

 

Histamin là một trong những chất trung gian giữ vai trò quan trọng trong sốc phản vệ và phản ứng dị ứng. Histamin được tìm thấy ở khắp các mô trong cơ thể nhưng sự phân bố không đồng đều. Histamin được dự trữ nhiều nhất trong các tế bào mast ở các mô và trong các hạt bài tiết của tế bào ưa kiềm. Do vậy, histamin có chủ yếu ở các mô phổi, ruột, da là nơi tế bào mast có tương đối nhiều.

Trong các tế bào, histamin kết hợp với heparin bằng lực hút tĩnh điện, tạo thành phức hợp histamin - heparin không có hoạt tính. Chỉ khi bị tác động của các yếu tố bên ngoài (lạnh, hóa chất, bụi trong không khí... ), thì các tế bào chứa phức hợp này bị kích thích giải phóng ra histamin dạng tự do. Lượng histamin này vượt ngưỡng cho phép của cơ thể và gắn với những vị trí nhạy cảm gọi là thụ thể histamin tại tế bào đích gây ra phản ứng dị ứng. Có 2 loại thụ thể của histamin là H1 và H2.

Khi histamin gắn với thụ thể H1 gây ra một số phản ứng với cơ thể như:

- Trên hệ tim mạch: histamin làm giãn mạch và tăng tính thẩm thấu mao mạch nên gây phù nề, viêm, ngứa, phát ban, tăng nhịp tim, tăng lực co bóp cơ tim gây hạ huyết áp.

- Trên hệ hô hấp: gây sổ mũi, ngạt mũi, liều nhỏ histamin cũng có thể gây co thắt cơ trơn khí phế quản, làm xuất hiện các cơn khó thở giống hen phế quản.

- Trên hệ thần kinh: nó kích thích đầu tận cùng của dây thần kinh cảm giác gây ngứa, đau.

Khi histamin gắn với thụ thể H2, đặc biệt là ở tế bào thành dạ dày gây tăng tiết acid dịch toan, dễ dẫn đến loét dạ dày, tá tràng.

Tác dụng của thuốc kháng histamin:

Các thuốc kháng histamin đối kháng cạnh tranh với thụ thể histamin tại tế bào đích, histamin không gắn được với thụ thể nên không có tác dụng trên tế bào. Có 2 loại thuốc kháng histamin tương ứng với 2 loại thụ thể , đó là thuốc kháng histamin H1 và thuốc kháng histamin H2. Thuốc histamin H2 chỉ cạnh tranh với histamin tại thụ thể H2 của tế bào thành dạ dày làm giảm tiết dịch vị nên được sử dụng trong điều trị loét dạ dày - tá tràng. Còn thuốc được sử dụng trong điều trị dị ứng là các thuốc kháng histamin H1.

Ta có thể hiểu cơ chế làm việc của histamin trong tế bào theo sơ đồ sau:

CHÍNH VÌ HIỂU ĐƯỢC CƠ CHẾ LÀM VIỆC CỦA HISTAMIN MÀ TA CÓ THỂ ÁP DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ:

- TÌM RA VÀ TRÁNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH

- DÙNG THUỐC ĐỂ DỌN DẸP, ĐÀO THẢI CÁC HISTAMIN TỰ DO, HISTAMIN ĐÃ KẾT HỢP THỤ THỂ.

 

Nếu bệnh nhân chuyển sang Đông y để chữa thì tất nhiên sẽ có rất nhiều bài thuốc để chữa, vì tâm lý người dân nước ta tin rằng thuốc Nam, thuốc Đông y ít độc tố, an toàn và mát không nóng như thuốc Tân dược. Đó là các bài thuốc có các vị thuốc như: kim ngân hoa, bồ công anh, sài đất, ké, đơn đỏ... Nhìn chung các bài thuốc này đều có tác dụng chữa bệnh nhất định đối với những người mắc lần đầu và bị bệnh nhẹ NHƯNG CHƯA ĐỦ đối với những người đã bị tái phát nhiều lần kèm triệu chứng bệnh nặng. Bởi vì theo Đông y và cả Tây y thì ta phải tìm ra nguyên nhân gây bệnh là các tác nhân (như sơn, hải sản tươi sống, vải quần áo mới, dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm... ví dụ như trường hợp một em gái 17 tuổi bị chứng bệnh mề đay lần đầu đã đến cơ sở của tôi điều trị, khi nói đến tác nhân hoa em gái này đã nhớ ngay đến trong phòng ngủ của mình có rất nhiều hoa tươi vì mới cách đó vài ngày bố em được thăng chức và được tặng nhiều hoa, kèm theo uống thuốc của tôi đã khỏi bệnh hoàn toàn). Theo lý luận Đông y thì ta phải tìm ra nguyên nhân gây bệnh, tìm ra gốc bệnh. Ví như trong việc điều trị chứng mất ngủ thì nếu ta dùng các vị thuốc: tâm sen, toan táo nhân, lạc tiên, lá vông, thảo quyết minh... thì chỉ có tác dụng hỗ trợ an thần và đối với bệnh còn nhẹ mới mắc. Còn nếu ta điều trị tận gốc bệnh mất ngủ thì phải tìm ra nguyên nhân gây bệnh như: Tâm âm hư, huyết hư, can uất, can thận âm hư, tâm thận bất giao, vị hư để chữa.

Tiếc rằng bây giờ cuộc sống quay quá nhanh đã cuốn đi những gì là giá trị, tình người. Con người bây giờ chỉ biết thức và làm việc cho tới khi mệt và nghỉ, những lời nhắn nhủ chân thành không còn nữa, mà tất cả mọi thứ đều trao cho nhau theo kiểu tiền trao cháo múc. Họ tiết kiệm lời nói để hỏi thăm cặn kẽ, chia sẻ, đồng cảm. Vòng xoáy ấy mang tên thời gian - tiền - thời gian... Nhiều bệnh nhân đã đang và tiếp tục dùng các loại thuốc mà đáng lý ra nó chỉ được sử dụng một tuần, nhưng một tuần không khỏi, rồi hai tuần... rồi cả tháng... Vì lợi nhuận, vì đồng tiền thầy thuốc chỉ nhắm mắt bán và bán... thuốc được bán như rau..., tên thuốc có thể thay đổi (Tôn Hành Giả - Giả Hành Tôn - Tôn Ngộ Không cũng chỉ là một), và lúc này sẽ cõng lên mình người bệnh một loạt tác dụng phụ và triệu chứng bệnh mới (gần đây tôi có điều trị cho một bệnh nhân nam bị thoái hóa cột sống, anh có kể về quá trình điều trị của mình. Anh đi tiêm một bác sỹ ở gần nhà sau 4 ngày không đỡ, anh lại đi tiêm 4 ngày ở một nơi khác xa hơn một chút cũng không đỡ, vì tính chất công việc là đi biển lên anh lại tiếp tục đi tiêm ở một thầy thuốc nữa ở xa nhất và điều trị ở đó thêm 5 ngày tổng cộng là 13 ngày. Sau 13 ngày này ở 2 bắp đùi non và khủy tay trong của anh đã mọc nên 3 chiếc mụn rất to như quả táo chua, ở đùi 2 chiếc và ở tay 1 chiếc, anh nói chúng đều có mủ và ngòi rút ra dài như sợi rơm, toàn thân anh mọc kín các loại mụn trứng ca bọc lâu tan, nổi sần sùi, tôi cho rằng đây chính là các tác dụng phụ do dùng Corticoid quá liều lượng. Khi anh đến điều trị hầu như các bác sỹ đã quên mất một điều quan trọng đó là "vấn", hoặc nhắm mắt đưa chân). Ai có thể ngăn được tình trạng trên ? chỉ có thể nói là: lương tâm người thầy thuốc, khả năng của thầy thuốc, lắng nghe và trải lòng. Các bạn có thấy ở các nước tư bản khi các tỷ phú họ về già là lúc họ đi làm từ thiện và chăm sóc cộng đồng. Họ chỉ để lại cho con cháu một phần gia tài, còn lại họ tự lập tổ chức từ thiện mang tên mình ? Tại sao vậy ? chính là để lại tiếng thơm cho muôn đời, tên của họ được sống mãi dù sau này họ có mất đi. Trên trần gian này, mọi thứ đều trở về cát bụi và cũng từ đất lại được sinh ra. Từ đất mọc lên cây, cây làm ra bàn ghế, tủ, giường, cửa... được vài chục năm, trăm năm mục nát trở về đất. Cây cho nhựa làm ra các vật dụng như rổ, rá, bàn, vỏ xe, lốp xe... rồi cũng mục nát. Trong lòng đất sinh ra kim loại sắt, thép, gang, đồng, chì... làm nên các công trình vĩ đại nhưng rồi cũng tồn tại được bao nhiêu... quá lắm thì vài trăm năm rồi cũng trở về với cát bụi, nơi mà nó được sinh ra. Chỉ còn tồn tại và sống mãi với thời gian đó chính là tên tuổi những con người có cống hiến tích cực cho cộng đồng, cho nhân loại của mình. Hãy sống sao cho lương tâm mình không cắn rứt ? hãy luôn là người biết lắng nghe, thấu hiểu và hành động.

Thầy thuốc giỏi, bác sỹ giỏi ở đâu cũng cần, nhưng chúng ta thử hỏi là làm sao cả nước Việt Nam này toàn là bác sỹ giỏi được. Thầy thuốc giỏi ấy họ chỉ chiếm một phần nhỏ mà thôi, còn có những thầy thuốc khá và trung bình. Thầy thuốc khá và trung bình CẦN LÀM CHO MÌNH THÀNH GIỎI vì chỉ có như vậy mới tránh được những điều đáng tiếc có thể xảy ra. Thầy thuốc giỏi rồi nhưng thiếu điều này thì cũng chỉ như ngày đẹp trời mà không có đêm, có lửa mà không có nước, có mặt trời mà không có mặt trăng, có hình hài con người nhưng trái tim dã thú... đó chính là chữ TÂM. Cần có PHÚC của người bệnh cộng với PHÚC của thầy thuốc mới chiến thắng được tử bệnh.

Lãn Ông trong Châu Ngọc Cách Ngôn viết:

 

"Thật lớn thay ! Làm nghề thầy thuốc giữ mạng sống nhân loại, phải thấy khi cái cơ bệnh nó chưa lộ ra, phải ngăn đón từ khi mới chớm phát, thấy cái bệnh thế khi nó chưa hình thành, và phòng bệnh từ khi bệnh mới nhen nhúm. Như vậy sẽ không có cái chuyện là phải ôm bụng, cắn rốn mà ăn năn không kịp. Làm nghề thầy thuốc không gì xấu hơn là chuyện ấy".

 

Cho nên người làm thuốc bao giờ cũng phải cẩn trọng, lo lường, cố tránh hết mọi sơ hở có thể xảy ra, vì mạng người là quan trọng.

Chính vì cố gắng làm theo lời Y tôn Lãn Ông mà tôi có một câu châm ngôn cho mình:

"Người đến chữa bệnh, dù khỏi hay không khỏi, nên tạo ra sự an toàn tuyệt đối cho cả hai bên".

Khỏi thì quá tốt rồi, còn nếu chưa khỏi thì từ từ xem lại đừng vội. Đừng để cảnh bệnh nhân mới chưa chữa được mà bệnh nhân cũ 1,2,3... kêu la thì không an toàn rồi.

Phải định ra phác đồ điều trị có sự an toàn tuyệt đối ngay từ đầu.

 

BỆNH NÀY CÓ THỂ XUẤT HIỆN Ở MỌI GIỚI, MỌI LỨA TUỔI NHƯNG XEM RA SỐ NGƯỜI BỊ BỆNH ĐA SỐ LÀ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM. NHIỀU BỆNH NHÂN ĐÃ KHÁM, ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG VÀ ĐỀU ĐƯỢC CÁC BÁC SỸ Ở ĐÂY NÓI RẰNG BỆNH NÀY PHẢI THEO CẢ ĐỜI, CHỈ CHỮA KHỎI ĐƯỢC MỘT THỜI GIAN, HAY TÁI PHÁT, KHUYÊN BỆNH NHÂN TÌM RA TÁC NHÂN GÂY DỊ ỨNG ĐỂ PHÒNG TRÁNH. TĂNG CƯỜNG SỨC ĐỀ KHÁNG, UỐNG THUỐC BỔ GAN VÀ VITAMIN C ĐỊNH KỲ.

RIÊNG BỆNH NỔI MỀ ĐAY DO KÝ SINH TRÙNG (SÁN NÃO, SÁN CHÓ, GIUN SÁN TRONG MÁU, GIUN SÁN...) THÌ GIAI ĐOẠN ĐẦU PHẢI ĐIỀU TRỊ BẰNG Y HỌC HIỆN ĐẠI.

 

Triệu chứng của mề đay là những mảng phù màu hồng hoặc đỏ nổi cao trên mặt da, kích thước và số lượng khác nhau, có thể ở bất cứ vị trí nào trên da, ngứa dữ dội, lúc mất chỗ này lại mọc chỗ kia, càng gãi càng ngứa và càng nổi thêm sẩn mới, khi mề đay khỏi không để lại dấu vết gì. Nhân dân ta còn ví nổi mề đay giống như bị bọ nẹt đốt (con bọ nẹt này hay có trong bụi chuối toàn thân màu xanh như lá chuối non, khi bị đốt nổi dát vầng lên trên mặt da và rất rát chứ không bị ngứa). Nó thuộc phạm trù chứng bệnh "Ẩn chẩn", "Phong chẩn khối" trong Đông y.

Mề đay cấp tính

 

Bệnh biểu hiện đột ngột ở bất cứ vùng nào trên cơ thể, thể hiện trên da những nốt sần, phù nề, ngứa dữ dội. Cơn xảy ra trong vài phút hoặc vài giờ rồi lặn hoặc có thể từng đợt kế tiếp nhau. Trong cơn mề đay cấp có thể kèm theo sốt cao, nôn mửa, đau quặn bụng, khó thở...

Phát bệnh nhanh, thường do ăn phải một loại đồ ăn nào đó. Ví dụ như: hải sản tươi sống, dị ứng thuốc, thời tiết lạnh...

Bỗng nhiên xuất hiện những nốt dát, nốt sần kích cỡ to nhỏ không giống nhau, màu sắc đỏ nhạt hoặc là trắng có kèm theo ngứa dữ dội, lúc ẩn lúc hiện, hoặc phát ban ngứa hình thù như con rắn lặn trong da thịt, nhưng sau khi lặn đi rồi thì không để lại vết tích gì nữa.

Toàn cơ thể có triệu chứng chán nản, mệt mỏi, hay cáu bẳn, hô hấp có thể khó khăn, phiền muộn... Ở một số người còn bị phát nóng, bốc hỏa.

 

 

Mề đay mạn tính

 

Nổi mề đay phát tác lại nhiều lần, lúc nặng lúc nhẹ, có thể kéo dài tới vài tháng hoặc lâu hơn. Có tới 80 - 90% bệnh nhân là không tìm ra được nguyên nhân (vô căn).

Đó là khi nổi mề đay kéo dài trên 8 tuần, không kể nhiều hay ít, có khi ngắt quãng nhiều ngày, có thể gặp các dạng khác nhau.

 

Các dạng mề đay:

 

- Mề đay thông thường: bệnh bắt đầu đột ngột, rầm rộ ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể với những sẩn phù có màu hồng, đặc biệt rất ngứa và có thể hợp lại thành mảng có giới hạn rõ lan rộng khắp người. Sau vài phút hay vài giờ thì lặn mất, không để lại dấu vết. Phát ban có thể lặn chỗ này và nổi ở chỗ khác.

 

- Mề đay thành vệt dài, thành vòng - mề đay xuất huyết

 

 

 

- Mề đay khổng lồ (phù mạch - phù Quincke) đó là phù nổi đột ngột làm sưng phù mặt, mi mắt, môi hoặc bộ phận sinh dục ngoài, niêm mạc... thường sau vài giờ thì lặn, không ngứa chỉ gây cảm giác căng tức khó chịu. Mức độ nguy hiểm của dạng phù này là có thể làm phù đường hô hấp trên, gây hẹp thanh quản và họng dẫn tới khó thở, phải cấp cứu.

 

- Mề đay cấp tiết Cholin: xuất hiện khi ra nắng, vận động thể lực, xúc cảm hay gặp ở người trẻ tuổi. Mề đay nổi đột ngột rầm rộ khắp cơ thể gây cảm giác rất ngứa.

 

- Mề đay giả: da vẽ nổi. Nếu dùng một vật đầu tù xát nhẹ lên da, vài phút sau, trên mặt da sẽ nổi gồ lên một vệt màu hồng. Có thể đi kèm nổi mề đay.

 

- Mề đay sẩn nhỏ: ngứa, gãi, để lại nốt sẩn nhỏ lâu tan.

 

- Mề đay di truyền: có khi cả gia đình hoặc cả dòng họ bị bệnh.

 

Nguyên nhân của chứng bệnh mề đay có thể do những yếu tố sau:

 

- Do yếu tố vật lý như chấn thương, cọ xát, lạnh nắng

 

- Do tiếp xúc các vật lạ qua da, qua đường hô hấp, do ăn uống, thuốc, mỹ phẩm, côn trùng, kí sinh trùng, vi khuẩn...

 

- Do di truyền, chủ yếu là chứng dị ứng do lạnh

 

 

 

- Do các bệnh hệ thống: có thể gặp mề đay kết hợp với Luput ban đỏ hệ thống, u ác tính, cường giáp trạng... cũng có nhiều trường hợp nổi mề đay nhưng không xác định được nguyên nhân.

 

- Do thực phẩm, thức uống, gia vị: thức ăn hay bị "đổ thừa" nhất là đồ biển như: sò, nghêu, cua, ghẹ, cá biển. Các loại sôcôla, sữa, bơ, pho mát. Nhóm thực vật là dưa gang, dưa tây, trái dâu, kể cả hành tỏi. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thức ăn thông thường nhất, "lành nhất" cũng có thể gây bệnh.

 

- Các chất phụ gia: chất bảo quản, nhuộm màu thực phẩm

 

- Thuốc men: có rất nhiều thứ thuốc có thể gây dị ứng và nổi mề đay. Đáng kể nhât là Peniciline rồi đến Aspirine, Sulfamides, các loại thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc trị đau xương khớp, thuốc ngừa thai...

 

- Nhiễm trùng: các ổ nhiễm trùng, nhiễm nấm tiềm tàng thường gây bệnh mề đay mãn tính như viêm xoang, sâu răng, nhiễm trùng đường tiểu, đường hô hấp trên như mũi họng. Viêm gan B và C, Helicobacter pylori, ký sinh trùng đường ruột, nhiễm nấm da...

 

- Các loại bụi nhà, bụi phấn hoa, bụi lông thú

 

- Các yếu tố cảm xúc, thay đổi nhiệt độ, như về mùa đông khí hậu lạnh người bệnh đắp chăn thì cơn nổi mề đay đến khiến bệnh nhân phải bỏ chăn ra và cảm thấy người như bốc nóng. Hay khi vào thời khắc giao mùa giữa mùa thu và mùa đông ở miền Bắc số người bị bệnh có xu hướng tăng, những vùng nổi mề đay nhiều là các vùng tay chân, cổ nơi mà áo quần không che kín được.

 

QUA KINH NGHIỆM NHIỀU NĂM HÙNG TÔI NHẬN THẤY BỆNH CÓ TÍNH DI TRUYỀN, YẾU TỐ MÁU (CÓ KHI CẢ MỘT DÒNG HỌ), YẾU TỐ TẠO MÁU MỚI TỪ TỦY XƯƠNG, SỨC ĐỀ KHÁNG SUY GIẢM. NGƯỜI TIỀN SỬ CÓ BỆNH GAN, THẬN, BỆNH ĐƯỜNG RUỘT MÃN TÍNH, TRĨ, GIUN SÁN... LIÊN QUAN TỚI GIỚI TÍNH LÀ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM BỊ NHIỀU HƠN. VÌ PHỤ NỮ LẤY ÂM HUYẾT LÀM GỐC, HUYẾT HƯ CŨNG RẤT DỄ BỊ BỆNH NÀY, CÒN TRẺ EM DO "TIÊN THIÊN BẤT TÚC" (GEN BỐ MẸ TRUYỀN CHO CÓ YẾU TỐ GÂY BỆNH HOẶC KHÔNG ĐẦY ĐỦ), BỊ SẶC NƯỚC ỐI LÚC MỚI SINH, BỊ VIÊM MŨI DỊ ỨNG KÉO DÀI ĐỀU LÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CÓ THỂ GÂY BỆNH.

 

Ta tìm hiểu về "Huyết hư" và "Tiên Thiên bất túc" rất có ích cho vấn đề điều trị:

 

Huyết hư là gì ?

 

Huyết là chất dịch màu đỏ có nguồn gốc từ đồ ăn thức uống được tỳ vị (đường tiêu hóa) khí hóa mà thành. Chúng luôn chuyển khắp cơ thể qua các mạch máu để dinh dưỡng toàn thân. Thông thường huyết được tạo thành từ:

 

- Thận chủ cốt tủy, tủy hóa sinh thành huyết.

 

- Tỳ khí hóa tinh hoa thủy cốc rồi qua tác dụng khí hóa của tâm phế mà thành. Cũng có thể nói tỳ khỏe sẽ giúp cho thận khỏe, thận khỏe sẽ sinh tinh, tinh hóa sinh thành huyết, huyết hóa sinh thành tủy, tủy đủ hóa sinh thành xương.

 

Do đó khi bị suy kém sẽ có biểu hiện huyết hư như:

 

- Người mệt mỏi.

 

- Sắc mặt, môi, móng nhợt nhạt.

 

- Da, lông thưa.

 

- Hoa mắt

 

- Chóng mặt

 

- Đau đầu

 

 

- Mất ngủ, lo lắng, hồi hộp

 

- Táo bón

 

- Chân tay tê bì...

 

Huyết được nuôi dưỡng tốt thì sẽ cho sắc da tươi nhuận, mềm mại, mịn màng và không có mụn nhọt.

 

VÌ HUYẾT HƯ SINH PHONG NÊN TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRỊ BỆNH MỀ ĐAY TA BẮT BUỘC PHẢI CÓ THUỐC BỔ HUYẾT, THEO Y VĂN CỔ NGÀN NĂM CÁC DANH Y ĐỂ LẠI ĐÓ LÀ "BỔ HUYẾT TRỪ PHONG".

 

Tiên thiên bất túc là gì ?

 

Tiên thiên là khí bẩm thụ của mỗi người khi chưa sinh. Hậu thiên là đời sống của mỗi người sau khi sinh.

 

Ta thường nói: "Tiên thiên bất túc, hậu thiên khuy tổn"

 

Vì vậy khi nói đứa trẻ "Tiên thiên bất túc" là nói đứa bé khi sinh ra ốm yếu do khí huyết của cha mẹ không đầy đủ. Còn nói "Hậu thiên bất túc" nghĩa là đứa trẻ ốm yếu do nuôi dưỡng không tốt.

 

DO TIÊN THIÊN BẤT TÚC MÀ Ở ĐÂY CHỦ YẾU LÀ CHỨC NĂNG CAN THẬN CỦA TRẺ CÒN YẾU, KHIẾN CHO QUÁ TRÌNH BÀI TIẾT, SƠ TIẾT, SỨC ĐỀ KHÁNG CỦA TRẺ CÓ VẤN ĐỀ, CHÍNH VÌ VẬY MÀ TA CẦN PHẢI XEM MẠCH ĐỂ CÓ HƯỚNG ĐIỀU TRỊ THÍCH HỢP.

 

Phát hiện nguyên nhân

 

Vì có quá nhiều nguyên nhân gây bệnh, người bệnh cần phải thật chú ý mới hy vọng thầy thuốc tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh để trị tận gốc. Khi triệu chứng phù môi, sưng mặt hoặc khó thở phải đến cơ quan y tế sớm để được cấp cứu nếu cần. Cần làm các xét nghiệm ở các Viện da liễu để có kết quả chính xác trước khi điều trị bằng Tây y hay Đông y.

 

VỚI KINH NGHIỆM ĐÃ ĐIỀU TRỊ NHIỀU BỆNH NHÂN KHỎI HOÀN TOÀN CHỨNG BỆNH MỀ ĐAY CẤP VÀ MẠN TÍNH BẰNG ĐÔNG Y, HÙNG TÔI NHẬN THẤY CHỨNG BỆNH NÀY GỒM HAI THỂ NHƯ SAU:

 

1. Thể cấpDo yếu tố phong là chính

 

TRIỆU CHỨNG

 

- Mới bị trong thời gian ngắn, người còn khỏe, nổi dát, ngứa - gãi - ban đỏ -  ngứa một vùng nào đó hoặc di chuyển, lúc bị ở đầu mặt, mắt môi, tay chân cho tới các vùng kín như vùng bụng, vùng mông, cơ quan sinh dục ngoài, da mông có thể rất bì dày.

 

- Về mùa hè tắm xong hóng quạt điện cũng nổi nốt phát ban rất ngứa hình thù như con rắn lặn trong da thịt.

 

- Mùa thu sáng sớm thức dậy ra ngoài các vùng đầu mặt, da tay, chân không được che kín cũng có thể nổi mề đay.

 

- Mùa đông ở một số người đắp chăn nóng quá cũng dễ nổi mề đay.

 

- Bệnh phát cấp tính sau khi ăn hải sản, dùng thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm, xà phòng...  thời điểm giao mùa (thu đông) có nguy cơ mắc nhiều hơn, ở thể này chưa thấy ảnh hưởng tới cơ quan nội tạng.

 

NGUYÊN NHÂN:

 

- Do phong hàn, phong thấp, phong nhiệt...

 

- Huyết hư phong táo, huyết kém được nuôi dưỡng...

 

PHÉP ĐIỀU TRỊ:

 

- Thanh nhiệt giải độc (tức kháng sinh Đông y)

 

- Chống viêm, kháng viêm Đông y

 

- Chống dị ứng Đông y

 

- Bổ huyết

 

- Sơ can giải uất

 

- Trừ phong giải kinh

 

- Bổ phế

 

 

Các bạn có thể so sánh với phác đồ điều trị của Tây y:

 

- Giải độc gan (bổ gan Boganic một chế phẩm viên cao đặc của Đông y)

 

- Vitamin c

 

- Chống dị ứng (citirizin, clopheramin... )

 

- Chống viêm (đề xa, hydrocortison, triam, kcort... )

 

Hai phác đồ trên có tác dụng giống nhau nhưng khi ta điều trị bằng Đông y sẽ tránh được tác dụng phụ không mong muốn. Điển hình nhất là khi ta điều trị lâu dài thuốc Tân dược sẽ bị đau dạ dày.

 

Điều đặc biệt nữa là chứng bệnh trên Đông y còn gọi là chứng phong (dân gian gọi là phong lạnh, phong ngứa... ) mà đã là chứng phong thì điều quan trọng nhất trong Đông y là phải bổ huyết trừ phong. Ta cứ hiểu đơn giản như thế này bổ huyết có nghĩa là làm mới nó lên, thay đổi nó đi, từ sắc xám trở lên hồng và làm cho nó đầy đủ hơn lên. Bổ huyết cũng có thể là bổ ngọn mà cũng có khi bổ gốc tùy trường hợp (tôi sẽ nói ở bài khác). Nhân đây tôi xin nói thêm về chứng bổ huyết. Đó là có những người rất béo và được cho là đủ huyết (máu) ấy tại sao họ cũng bị các chứng bệnh trên, một điều minh chứng cho chứng huyết đã bị hư, xấu, cần làm mới và thay đổi.

 

Một khái niệm nữa về phong (được hiểu như là gió), tại sao trong cơ thể lại có phong (gió). Theo Đông y phong này có thể do bên ngoài xâm nhập vào cơ thể song cũng có thể do nội sinh. Nếu ở bên ngoài gọi là ngoại phong bao gồm: 6 thứ khí độc xuất hiện vào 4 mùa trong năm (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa). Phong hay kết hợp với các khí như: phong hàn, phong nhiệt, phong thấp... Nếu ở bên trong gọi là nội phong thường là chứng nguy hiểm hơn, khó chữa hơn như (can phong nội động, âm hư hỏa vượng, nhiệt cực sinh phong...). Với chứng bệnh mề đay thể cấp thường hay kèm phong hàn, phong nhiệt, phong thấp... Vâng phong trong cơ thể có thể bạn không nhìn thấy nhưng các bạn có để ý rằng vào những ngày hè nóng nực kéo dài thì ở nơi đó sẽ hay xuất hiện giông lốc hay lốc xoáy. Một điều ứng nghiệm trong Đông y: "Nhiệt cực sinh phong". Một lý giải khác là khi các bạn làm đèn kéo quân, lúc mà lửa ở giữa ngọn đèn được thắp lên thì các hình xung quanh sẽ quay theo, lửa càng to thì đèn quay nhanh, lửa nhỏ thì đèn quay chậm. Hay ở quê trẻ em hay làm lồng đèn gió (lồng đèn chỉ thiên, đèn gió...) , phần trên và xung quanh được bọc bằng ni lông kín cao 50cm rộng 50cm, phần dưới để thoáng và có thiết kế để thắp lửa cháy vừa đủ sao cho không bị cháy vào ni lông. Khi đốt cháy ngọn đèn bên trong đèn sẽ giúp đèn bay lên. Hỏa, nhiệt, chân dương trong cơ thể là phải có và cần thiết để các công năng tạng phủ hoạt động nhưng không nên thái quá, nhiều quá thì sẽ sinh bệnh, sinh phong, mất cân bằng. Cũng như mặt trời là phải có để vạn vật sinh sôi nảy nở, quang hợp và phát triển nhưng nếu nắng nóng quá và kéo dài thì sẽ sinh dịch bệnh, bão, cuồng phong, lốc xoáy, vòi rồng...

 

Tại sao lại có "Nhiệt cực", đó là nhiệt quá thịnh làm hao âm huyết, đốt nóng kinh can, gây nên các hiện tượng sốt cao, hôn mê, kinh giật.    

 

PHƯƠNG THUỐC:

Bài 1

  Bồ công anh                                    20g

  Kim ngân hoa                                 12g

  Liên kiều                                         12g

  Đương quy                                      10g

  Độc hoạt                                            8g

  .....

  ........................ kết hợp với một số vị thuốc quý giúp điều trị khỏi bệnh cao.

Bài 2

Thuốc tán kiêm trị uống vào buổi tối trước khi đi ngủ 

 

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ VÀ ĐIỀU TRỊ KHỎI BỆNH XIN LIÊN HỆ THEO ĐỊA CHỈ BÊN DƯỚI !

 

2. Thể mạndo yếu tố tạng hư, tạng yếu là chính

Bài 1

TRIỆU CHỨNG:

 

- Bệnh có dấu hiệu tái phát đi tái phát lại qua nhiều năm, càng ngày triệu chứng bệnh càng lan rộng. Vùng bị bệnh không còn giới hạn ở một vùng nào đó như ở thể cấp mà có tính chất lan rộng toàn thân.

 

- Bệnh kéo dài trên 8 tuần, có thể kéo dài tới vài tháng.

 

- Từ vùng đầu mặt, tới vùng bụng sườn, tay chân và đặc biệt ngứa dữ dội ở vùng mông, vùng mông có thể bị dày cộm lên ngứa và gãi nhiều gây lở loét, sau đó để lại những vết sẹo thâm đen. Vùng đầu mặt, vùng bụng có thể có cơn co giật, còn ở bụng có cơn đau lâm râm, thậm chí có thể còn gây cả cơn tiêu chảy.

 

- Bệnh đã ảnh hưởng tới các tạng can, thận và có thể thêm tạng tỳ. Gây các triệu chứng như mất ngủ, khó vào giấc, mặt có nhiều mụn, cáu gắt, mệt mỏi, đau đầu, lo lắng, nhức trong xương, ăn kém, phân táo tiểu vàng hoặc là phân táo, nát, lỏng thất thường...

 

NGUYÊN NHÂN:

 

Do tạng Can, tạng Thận hư yếu, cũng có khi kèm cả Tỳ hư. Giai đoạn này bệnh đã có dấu hiệu nội sinh, một số tạng đã hư yếu, đặc biệt là tạng Can, tạng Thận. Tạng Can hư yếu khiến quá trình giải độc bài tiết, sơ tiết kém. Tạng Thận kém đã gây nên việc tạo máu mới từ thận, từ tủy xương bị suy giảm (Đông y gọi là huyết hư). Can Thận kém nuôi dưỡng khiến cho cơ thể hay bị bốc hỏa, nóng trong, đau đầu, khát, khô miệng, khó ngủ khi vào giấc, phân táo, tiểu vàng, chuột rút, đau cơ, nhức xương... Kèm theo các tạng yếu dẫn tới chức năng bài tiết cũng như sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm.

 

Các bạn cần phân biệt với khái niệm về thận của Tây y như: Viêm cầu thận, Suy thận, Nang thận... Nếu Tây y kết luận là Viêm cầu thận, Suy thận thì Đông y sẽ cho là Thận hư, Thận yếu rất nặng. Còn nếu Tây y làm xét nghiệm và kết luận thận của bạn bình thường thì Đông y vẫn có thể gọi là Thận hư, Thận yếu. Bất kể ai cũng có thể bị Thận hư, Thận yếu từ trẻ em, thanh niên, người trưởng thành cho đến người già cả.

 

Đông y có khái niệm Thận hư, Thận yếu có nghĩa là nó đã suy giảm chức năng, ví như trước đây nó hoạt động 10 phần thì nay chỉ còn 5 hoặc 7 phần hoặc có thể yếu hơn. Thận trong Đông y là một hành thuộc thủy (gồm ngũ hành: thủy, mộc, hỏa, thổ, kim), màu đen, phương bắc, vị mặn, tình chí là sợ (trẻ em Thận còn yếu nên nếu gặp ai dữ tướng và quát nạt là sẽ đái ra quần do Thận chưa làm chủ được thủy). Quản lý các chức năng: Thận sinh tinh (tinh này được tạng tỳ hấp thu chất dinh dưỡng từ tinh đồ ăn ngũ cốc, tinh đồ uống để nuôi Thận), sinh huyết, sinh tủy, sinh xương nên Thận quản lý trông nom xương. Chủ về sinh dục và phát dục của cơ thể, nữ 7 tuổi thay răng mọc tóc 14 có khả năng sinh con, 49 tuổi thiên quý kiệt Thận âm suy và không còn khả năng sinh con. Nam 8 tuổi thay răng mọc tóc 16 tuổi có khả năng sinh con, 64 tuổi thiên quý kiệt Thận khí suy không còn khả năng sinh con. Những ai ngoài 49, 64 tuổi còn khả năng sinh con gọi là Thận âm thịnh, Thận khí thịnh (khỏe hơn người bình thường); (thiên quý kiệt: có nghĩa những điều tốt đẹp trời ban không còn nữa).

Thận chủ về hai phủ kỳ hằng là não (vì các ống xương thông với nhau và thông lên não, não là bể chứa tủy xương, nếu thận khỏe sẽ có trí nhớ tốt, người già thận yếu nên hay quên và giảm trí nhớ) và tử cung (nữ). Thận khai khiếu ra răng (răng là phần thừa của xương, những ai 80, 90 tuổi mà răng còn chắc thì sẽ cho thấy là còn khỏe, 40 tuổi đã rụng răng cho thấy dấu hiệu sinh tồn là rất yếu, không thọ, ứng với câu chúng ta nói hàng ngày: "cái răng cái tóc là GỐC con người"; tóc (Thận sinh huyết mà tóc lại được gọi là huyết dư, đốt cháy gọi là huyết dư thán, tóc là phần máu huyết chết biến ra, máu huyết ai đẹp, Thận khỏe sẽ cho mái tóc đen, bóng, dẻo dai, không bị gẫy rụng xơ xác hay vàng hoe... ); tai (Thận khai khiếu ra tai, Thận âm hư tai ù vì lúc hỏa của phần dương lấn át quá , Thận dương hư tai điếc, ví như quả trống đã bị giãn quá rồi nên đánh không kêu lên được, cần phải căng mặt trống lên, tức tăng nhiệt cho thận dương để xua tan mây mù), tai lúc ù lúc điếc là cả hai thận yếu cả.

 

Thận khai khiếu ra hai đường nhị tiện: tiểu tiện và đại tiện (tiểu vàng phân táo là Thận âm hư; tiểu trong như nước mưa phân lỏng như cháo hoa (ngũ canh tả) đi đại tiện vào lúc 5, 6 giờ sáng là Thận dương hư; lúc táo lúc nát là bị hư cả hai; lúc đầu táo sau lỏng khó đi là nhiệt lỵ hay hàn thấp). Thận còn quản lý về trí nhớ, Thận khỏe sẽ nhớ lâu và sáng suất, tiếng nói vang dội có khí lực, vì Phế chủ về khí, khí đầu nguồn nhưng Thận chủ về nạp khí, muốn nói lâu không nhọc thì nên bổ Thận nạp khí (các ca sĩ thường có giọng hát khỏe và giàu nội lực, thể hiện phế - thận hoàn hảo, để hát truyền cảm và hay thì cần có tạng tâm tốt nữa). Ngoài ra ta cần phải hiểu thêm về Thận, Thận có Thận âm Thận dương (cũng giống như Can cũng có Can âm, Can dương; Tâm âm, Tâm dương... ), trong một hành thì phần âm và dương phải cân bằng nhau nếu mất cân bằng sẽ sinh bệnh, và nếu để mất cân bằng rồi thì ta chỉ việc nâng đỡ phần yếu lên cho khỏe cân bằng mà không được phạt mạnh phần khỏe. Ví dụ ta tìm hiểu về tạng Thận: Thận âm có vai trò như một hồ nước mát và Thận dương như là một lò lửa (lửa, hỏa, nhiệt của Thận dương được bố mẹ truyền cho lúc mới sinh và do các công năng tạng phủ hoạt động tạo ra không được tàn phá) hai bên cân bằng nhau không nóng không lạnh. Nhưng nếu Thận âm bị yếu thì Thận dương (lò lửa) sẽ nhảy sang chiếm đất và gây nên các triệu chứng như: nóng trong, mất ngủ, tiểu vàng, phân táo, nhức trong xương... và ngược lại nếu Thận dương (lò lửa) bị yếu thì Thận âm (hồ nước mát) sẽ nhảy sang chiếm đất và sẽ có các triệu chứng như: lạnh, sợ gió sợ lạnh, người hư yếu, tiểu trong, phân lỏng... Nếu cả hai cùng yếu thì sẽ cho các triệu chứng lẫn lộn. Người nào sắp chết hoặc chết là lúc đó dương khí, nguyên khí, Thận dương đã không còn nữa khiến cơ thể lạnh toát, Đông y gọi là chứng dương thoát.

 

Một điều đặc biệt nữa là Đông y từ ngàn năm, tuy không có máy móc hiện đại như ngày nay nhưng các danh y đã biết được rằng Thận sinh huyết (Hemoglobin), mà ngày nay nền Y Học Hiện Đại mới tìm ra. Ỏ đây mới thực sự là TẾ BÀO GỐC trên con đường sử lý các bệnh nguy hiểm của thời đại theo Đông y. Tương tự các hành Can, Tâm, Tỳ, Kim cũng như vậy.

 

Thận trong Đông y được cho là một tạng thuộc hành thủy, có phủ (tức vị trí) nằm ở lưng. Khi thận bị bệnh các cụ danh y ngày xưa không biết giải phẫu nó thế nào, nhưng các cụ đã biết khắc phục nó bằng cách rất cụ thể như sau:

 

*** Tiết tả hỏa, lợi thấp, trừ thấp

 

- Khi thận bị yếu sẽ phát hỏa (nóng) gây nóng thận, gây tiểu vàng tiểu đục. Hoặc phát lạnh (hàn) gây tiểu nhiều lần, các vấn đề bài tiết bị trục trặc.

 

- Ta cứ ví thận như là một cái bể lọc nước, khi cái bể ấy bị yếu chính là lúc nó đã bị trám bẩn, bị chai cứng không thể lọc được nước nữa hoặc lọc kém. Cho nên ta cần phải làm sạch bằng cách: tháo toàn bộ ra, thay lọc mới, thay cát đá mới đã bị bám bùn cặn bẩn... Bể lọc nước thì có thể thay thiết bị mới, còn thận trong cơ thể con người thì chỉ có thể sửa lại, làm mới lại, làm khỏe lên... thay mới thì rất đắt và chỉ khi bệnh quá nặng.

 

*** Cố tinh sáp niệu

 

- Thận bị yếu có thể bị giãn, to, co bóp và đàn hồi kém cần làm cho nó săn chắc lại.

 

*** Nhuận thận

 

- Làm cho thận sạch rồi, trừ thấp trừ nhiệt trừ hàn rồi, đàn hồi tốt rồi nhưng lại cần làm cho nó mềm mại, nhu nhuận hơn.

 

KHI THẬN BỊ BỆNH VÀ CÓ THỂ LÀ CHƯA BỊ MỚI CHỈ LÀ YẾU NHƯNG HÙNG TÔI CHƯA THẤY Y HỌC HIỆN ĐẠI CÓ MỘT PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BÀI BẢN NÀO ĐỂ KHẮC PHỤC NÓ SỚM NHẤT.

 

PHÉP ĐIỀU TRỊ:

 

- Thanh nhiệt giải độc (kháng sinh Đông y)

 

- Chống dị ứng Đông y

 

- Chống viêm, kháng viêm Đông y

 

- Bổ can, điều hòa can thận

 

- Bổ phế, kiện tỳ.

 

 

PHƯƠNG THUỐC:

 

  Tiền hồ                                         12g

  Cát cánh                                       12g

  Bạch linh                                      12g

  Trạch tả                                          8g

  Đan bì                                             8g

  .....

  .......................... kết hợp một số vị thuốc quý giúp điều trị khỏi bệnh cao.

 

Bài 2

Thuốc tán kiêm trị uống vào buổi tối trước khi đi ngủ 

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ VÀ ĐIỀU TRỊ KHỎI BỆNH XIN LIÊN HỆ THEO ĐỊA CHỈ BÊN DƯỚI !

 

MỘT SỐ THỂ BỆNH MỀ ĐAY THEO ĐÔNG Y:

 

1. Do phong nhiệt:

- Triệu chứng: Mề đay có màu hồng, nóng trong, khát nước, tiểu vàng, phân táo, gặp thời tiết mát dễ chịu, mạch phù sác.

 

- Điều trị: sơ phong thanh nhiệt

 

- Phương thuốc: Ngân kiều tán gia giảm

 

  Kim ngân hoa                                 12g

  Liên kiều                                         12g

  Cát cánh                                            10g

  Trúc diệp                                          8g

  Bạc hà                                              8g

  Sinh địa                                           12g

  Ngưu bàng tử                                  10g

  Đan bì                                              10g

  Kinh giới                                           8g

  Phòng phong                                     8g

  Thuyền thoái                                     8g

  Cam thảo                                           6g.

 

  Sắc uống, ngày 1 thang.

 

2. Do phong hàn

 

- Triệu chứng: nổi mề đay sắc nhạt, to nhỏ không đều, gặp lạnh bệnh phát nặng lên, giữ ấm thì đỡ, không khát nước, tiểu bình thường hoặc trong, sợ lạnh.

 

- Điều trị: khu phong tán hàn

 

- Phương thuốc: Quế chi thang gia giảm

 

  Quế chi                                              8g

  Bạch thược                                      12g

  Cam thảo                                           6g

  Sinh khương                                      6g

  Tô tử                                                12g

  Tế tân                                                 6g

  Kinh giới                                           12g

  Phòng phong                                    12g

  Bạch chỉ                                              6g

  Đại táo                                              3 quả.

 

  Sắc uống, ngày một thang.

 

3. Do huyết hư phong táo

 

- Triệu chứng: bệnh kéo dài hay tái phát, mất ngủ, ngủ mơ màng, da khô, mỏi cơ bắp, ngày nhẹ đêm nặng, mạch tế.

 

- Điều trị: bổ huyết, trừ phong, nhuận táo, giảm ngứa

 

- Phương thuốc: Tứ vật thang gia giảm

 

  Sinh địa                                          16g 

  Xuyên khung                                  12g

  Đương quy                                      12g

  Bạch thược                                      12g

  Hà thủ ô chế                                     12g

  Đan sâm                                           10g

  Đan bì                                              10g

  Huyền sâm                                       10g

  Xác ve                                              10g

  Cam thảo                                            6g.

 

  Sắc uống, ngày 1 thang.

 

MỘT SỐ VỊ THUỐC DÙNG ĐỂ TRỊ BỆNH MỀ ĐAY:

 

 

* BỒ CÔNG ANH

Bồ công anh có 2 loại: Bồ công anh Việt Nam và Bồ công anh Trung Quốc. Bộ phận dùng toàn cây phơi khô hoặc tươi. Bồ công anh vị đắng, ngọt tính hàn. Tác dụng: thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, tán kết, lợi thấp thông lâm. Chủ trị: các chứng ung nhọt, sang lở, nhũ ung (viêm vú) trường ung (viêm ruột), nhiệt lâm (viêm tiết niệu), hầu tý (đau họng), mắt sưng đỏ đau, chứng thấp nhiệt hoàng đản. Sách Tân tu bản thảo: "chủ phụ nhân nhũ ung thũng sắc nước uống và đắp". Sách Bản thảo diễn nghĩa bổ di: "hóa nhiệt độc, tiêu ác thũng kết hạch, giải thực độc, giới lại tiên sang (ghẻ, phong hủi, chàm, nhọt lở); khứ phong, tiêu sang độc, tán loa lịch kết hạch, chỉ tiểu tiện huyết, trị ngũ lâm lung bế, lợi bàng quang". Sách Bản thảo cương mục thập di: "trị tất cả các chứng trùng, rắn độc cắn".

 

* KIM NGÂN HOA

Kim ngân hoa còn gọi là Hoa dây mối, Hoa nhẫn đông, sống quanh năm, vào đầu mùa hạ khi mới tạo nụ chưa ra hoa, thì thu hoạch, phơi âm can. Dùng tươi hoặc chế thuốc. Kim ngân hoa có vị ngọt, tính hàn bổ phế, vị, đại tràng. Tác dụng: thanh nhiệt, giải độc tiêu viêm. Chủ trị ngoại cảm phong nhiệt, mụn nhọt lở ngoài da, phong thấp, ho do phế nhiệt, ngừng kiết lỵ, giải cảm và sáng mắt, sảng khoái đầu óc. Sách Danh Y biệt lục: "hàn nhiệt thân thũng, nhiệt độc". Sách bản thảo cương mục: "tất cả các chứng gió, sưng, mụn lở loét, giang mai, có thể thanh nhiệt giải độc". Chính vì tính mát, dịu, có thể tiêu viêm của vị thuốc mà Hùng tôi hay dùng Kim ngân hoa để chữa chứng viêm dạ dày nóng, hay ợ chua, táo bón. Dùng lâu dài với liều lượng nhỏ giúp da dẻ tươi đẹp, trường thọ.

 

* LIÊN KIỀU

Liên kiều là loại cây nhỏ rụng lá, thuộc nhóm hoa mộc. Khi có sương trắng, ngắt quả chín, màu không xanh, gọi là thanh kiều. Trước khi sương giá, ngắt quả chín gọi là hoàng kiều. Sau khi thanh kiều được hái, đun chín phơi khô. Liên kiều vị đắng tính hàn. Tác dụng: thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, giãn mạch hạ áp. Chủ trị các bệnh viêm nhiễm và mụn nhọt. Dùng trong trường hợp vi huyết quản dễ vỡ đứt, ban xuất huyết. Tâm liên kiều có tác dụng làm mát da, trị nóng vào tim, sốt cao, chữa các hạch, mụn nhọt do nóng. Sách Bản kinh: "chữa hàn nhiệt, hạch, mụn nhọt". Bản thảo hạ hoa tử: "thông tiểu tràng, triệt mủ, chữa mụn, giảm đau, thông kinh nguyệt".

 

* TIỀN HỒ

Tiền hồ là rễ của cây tiền hồ hoa trắng và tiền hồ hoa tím thuộc họ hoa tán. Thu hoạch vào hai mùa xuân thu, bỏ đi thân lá rửa sạch phơi khô cạo bỏ vỏ ngoài, ngâm trong nước ấm thái phiến dùng. Tiền hồ còn gọi là Quy nam, Thổ đương quy, Sạ hương thái, Tử hoa tiền hồ. Tiền hồ vị đắng, cay, tính hơi. Tác dụng: chỉ khái, giáng khí trừ đờm, tuyên tán phong nhiệt. Chủ trị ho do ngoại cảm phong nhiệt, đàm nhiệt gây nên chứng ho suyễn đầy, ụa ói. Sách Danh Y biệt lục: "Tiền hồ trị đàm đầy trong ngực sườn, tâm phúc kết khí, phong đầu thống, khứ đàm thực, hạ khí". Sách Nhật hoa bản thảo: Thì tiền hồ trị "tất cả các chứng lao, hạ tốt cả các khí, chỉ khái, phá trưng kết...". Sách Trấn nam bản thảo: có ghi chép về công dụng của thuốc: Tiền hồ "giải tán thương hàn, chỉ khái thấu... ". Sách Cương mục bản thảo: "thanh phế nhiệt, hóa đàm nhiệt, tán phong tà".

 

 

* CÁT CÁNH

Cát cánh còn có tên là Khổ cát cánh, Bạch cát cánh, Ngọc cát cánh, dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách "Bản kinh". Là rễ khô của cây Cát cánh, cây trồng bằng hạt đang được di thực vào nước ta. Sau khi đào rễ về rửa sạch, bỏ tua rễ, bỏ vỏ ngoài hoặc không bỏ vỏ phơi khô, tẩm nước cắt lát dùng. Chích Cát cánh là Cát cánh chế mật sao vàng. Cát cánh vị đắng, cay tính hơi ôn. Tác dụng: thông phế khí, tuyên phế khử đàm, lợi yết, bài nùng, tán phong hàn. Chủ trị các chứng ho nhiều đờm, họng đau nói khàn, phế ung ngực đau (áp xe phổi), tiểu tiện không thông lợi. Sách Danh Y biệt lục: "lợi ngũ tạng trường vị, bổ huyết khí, trừ hàn nhiệt, phong tý, ôn trung tiêu cốc, liệu hầu yết thống, hạ cổ độc (trừ độc của sâu)". Sách Dược tính bản thảo: "trị hạ lỵ, phá huyết, khử tích khí, tiêu tích tụ đàm diên, chủ phế khí, khí thúc thấu nghịch, trừ phúc trung lãnh thống, chủ trúng ác (nhiễm độc) và trị trẻ em động kinh". Sách Bản thảo thông huyền: "Cát cánh chi dụng, duy kỳ thượng nhập phế kinh, phế vi chủ khí chi tạng, cố năng sử chư khí hạ giáng... ". Vì vậy tôi hay dùng Cát cánh cho chứng viêm họng có mủ, rát họng, nói khàn, nói không ra tiếng, viêm thanh quản, sơ dây thanh quản kết hợp với Ngọc trúc, Sa sâm, Mạch môn đạt kết quả tốt.

 

* ĐƯƠNG QUY

Đương qui, còn gọi là Tần qui, Vân qui, Xuyên qui được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh là rễ phơi hay sấy khô của cây Đương qui thuộc họ Hoa tán. Đương quy

vị ngọt, cay tính ôn. Tác dụng: bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh, chỉ huyết. Chủ trị chứng tâm can huyết hư, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, các bệnh thai tiền sản hậu, chấn thương ứ huyết, tê nhức, huyết hư, trường táo, ung nhọt. Sách Bản kinh: "chủ khái nghịch thương khí, ôn ngược hàn nhiệt tại bì phu, phụ nhân lậu hạ, tuyệt tử, chư ác sang thương kim sang". Sách Danh Y biệt lục: "ôn trung chỉ thống, trừ khách huyết nội bế, trúng phong kinh, không ra mồ hôi, thấp tý, trúng ác khách khí, hư lãnh, bổ ngũ tạng, sinh cơ nhục". Sách Dược tính bản thảo: "chỉ ẩu nghịch hư lao hàn nhiệt, phá ứ huyết, bổ bất túc, chỉ lỵ phúc thống"Chỉ có thể nói về Đương quy một câu của cổ nhân: "Thánh dược Bổ huyết".

 

* BẠCH THƯỢC

Bạch thược còn gọi là Bạch thược dược. Bạch thược là rễ phơi sấy khô của cây Thược dược thuộc họ Mao lương. Bạch thược vị đắng, chua tính hơi hàn. Tác dụng: dưỡng huyết, liễm âm, hòa can, chỉ thống, lợi tiểu. Chủ trị: các chứng can huyết hư, cơ thể suy nhược, nhiều mồ hôi, kinh nguyệt không đều, các chứng đau nhức, tả lỵ, cảm mạo do chứng hư gây nên. Sách Bản kinh: "chủ tà khí phúc thống, trừ huyết tý, phá kiên tích, trị hàn nhiệt sán hà, chỉ thống, lợi tiểu tiện, ích khí". Sách Danh Y biệt lục: "thông thuận huyết mạch, hoãn trung, tán huyết,... lợi bàng quang, đại tiểu trường, tiêu ung thũng, thời hành hàn nhiệt, yêu phúc thống"Trĩ, chuột rút, bệnh gan, chứng đau âm không thể thiếu Bạch thược.

 

 

Phòng bệnh:

 

- Phát hiện nguyên nhân: vì có quá nhiều nguyên nhân gây bệnh, người bệnh cần phải thật chú ý mới hy vọng giúp thầy thuốc tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh để trị tận gốc.

 

- Điều trị mề đay: để điều trị hiệu quả chứng mề đay trước hết phải tìm ra được căn nguyên gây bệnh. Tùy vào mức độ và nguyên nhân, mà bác sỹ điều trị bằng thuốc nam hoặc thuốc tây. Nếu bệnh nặng hoặc xuất hiện thường xuyên, người bệnh phải đi khám ở các cơ sở y tế để có hướng xử lý tốt nhất.

 

 

 

- Phòng bệnh: những người dễ bị nổi mề đay thường là có cơ địa nhạy cảm, do vậy để phòng bệnh cần lưu ý những điểm sau:

 

+ Đối với nổi mề đay do lạnh, luôn chú ý mặc ấm, hạn chế tối đa tiếp xúc với môi trường lạnh.

 

+ Nếu do ăn uống nổi mề đay thì không nên ăn những thức ăn đó (như thịt gà, cá chép, tôm, cua... )

 

+ Phụ nữ khi sử dụng mỹ phẩm phải thận trọng, lựa chọn những loại mỹ phẩm thích hợp với loại da của mình.

 

+ Khi tiếp xúc với môi trường (khói bụi, xi măng, vải vóc mới, sơn, sơn be u... )  có nhiều chất độc hại phải đeo khẩu trang và mặc quần áo bảo hộ lao động.

 

+ Cần giữ gìn vệ sinh cơ thể sạch sẽ

 

+ Đặc biệt khi sử dụng các loại thuốc đông - tây y mà không được hướng dẫn của bác sỹ, không chỉ gây ra chứng mề đay mà còn có thể bị ngộ độc thuốc.

 

CÓ LÚC HÙNG TÔI ĐÃ CÓ Ý KHÔNG VIẾT LÊN BÀI NÀY, SONG VÌ TỰ CẢM THẤY THƯƠNG CẢM CHO ĐỒNG BÀO MÌNH, CÓ BỆNH MÀ LẠI ĐƯỢC Ở ĐÂU ĐÓ NÓI KHÔNG CHỮA ĐƯỢC THÌ THẬT LÀ BI QUAN, CHÁN NẢN QUÁ. HOẶC LÀ ĐÃ ĐI CHỮA NHIỀU NƠI KHÔNG KHỎI THÌ CŨNG THẬT BUỒN THAY... VÌ VẬY MÀ TÔI DÁM MẠO MUỘI ĐƯA CHÚT KIẾN THỨC NHỎ BÉ CỦA MÌNH CHIA SẺ.

 

Mong ước làm lành các vết đau người bệnh !

                                                                                                

Hùng tôi, kính bút !

 

Hỗ Trợ Tư Vấn: 07h - 20h

 

PHÒNG CHẨN TRỊ Y HỌC CỔ TRUYỀN

Lương y VŨ VĂN HÙNG

ĐC: Đội 6 xã Giao Nhân - huyện Giao Thủy - tỉnh Nam Định

ĐT: 02283.734838 - 0904994555 - 0838689555 - 0968602687

Hữu Ích

Thống kê

158823
Số người đang online 3
Số truy cập hôm nay 15
Số truy cập tháng này 19689

Hỗ trợ trực tuyến

  • Tư vấn: 0838. 689 555
    My status
  • Gọi : 0968. 602 687
    My status
  • Gọi : 0904. 994 555
    My status
  • Hotline: 02283.734 838